TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg BANDODANCU.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg TDMNPB_tunhien.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam

    Tượng đồng đen một chân - Xuân Đức

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 03h:03' 24-04-2024
    Dung lượng: 670.9 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    • TƯỢNG ĐỒNG ĐEN MỘT CHÂN
    • Khai từ
    • Chương 1
    • Chương 2
    • Chương 3
    • Chương 4
    • Chương 5
    • Chương 6
    • Chương kết
    • Hết

    TƯỢNG ĐỒNG ĐEN MỘT CHÂN
    Tác giả: Xuân Đức
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Khai từ
    Thầy tôi nói: Làm văn đừng cố tìm cách nói cho người ta tin, hãy nói những gì tự mình tin
    nhất.
    Tôi hỏi: Thế người ta kể chuyện cổ tích thì sao ?
    Thầy lại nói: Tất cả những chuyện cổ tích đều được đẻ ra từ niềm tin trong sáng nhất.
    Bạn có quyền tin hoặc không tin vào những điều mà tôi sắp kể. Việc đó không sao, bởi chính
    tôi, khi chấm hết trang viết cuối cùng cũng chợt thấy bần thần. Tôi tự hỏi, liệu người đọc có thể
    tin được vào những điều mình kể không ? Tôi loay hoay định sửa lại bản thảo, chợt nhớ đến lời
    dặn của thầy : đừng cố tìm cách làm cho người ta tin, hãy xem xem mình nói có thật lòng
    không ? Thưa bạn, hãy coi như tôi đang làm cổ tích vậy.
    Thầy tôi dạy: cái nghiệp văn có người nói bịa mà như thật, có người nói thật lại như bịa .
    Tôi hỏi , thưa thầy như tôi đây thuộc loại nào ?
    Thầy cười to rồi nghiêm mặt. Cái đó anh phải tự biết lấy.
    Còn gì gian khổ và nghiệt ngã bằng sự tự biết về mình. Người không tự biết mình, như
    chuyện dân gian vẫn kể, là người lúc nào cũng tỏ ra thông thạo tất cả mọi chuyện, là người chỉ
    thích nói cho người khác nghe mà không bao giờ chịu lắng nghe người khác nói, là người chỉ
    cắm cổ cắm đầu mà viết chứ chẳng bao giờ chịu khó đọc những trang viết của người xung
    quanh. Tôi tin cả tôi lẫn các bạn không có ai như vậy cả.
    Tôi không ép bạn phải tin vào điều tôi sắp kể.Tuy vậy, nếu bạn tò mò muốn biết thì tôi sẵn
    sàng bất cứ lúc nào cũng có thể dẫn bạn đến thăm chơi cái xóm Linh Linh ấy, nơi có một người
    đàn ông lấy bảy bà vợ mà cũng là bảy chị em ruột. Còn các thầy mo và những phép thư của họ
    thì sao ? Xin tranh thủ kể trước ra đây một trường hợp.
    Vào năm 1962, có một người đàn ông chột mắt, tuổi cao, râu dê, cưỡi một con ngựa cùng với
    vợ, tự xưng là Tổng vương từ ngoài vùng đất Hàm Nghi vào. Dọc theo các bản dân tộc, người
    vợ đi trước một ngày dùng thuốc độc thư cho nhân dân bị ốm. Các thầy mo trong bản không có
    cách gì chữa được vì đó là một loại độc đặc biệt. Ngày hôm sau, tên Tổng vương ấy đi ngựa
    đến, dùng phép giải độc. Dĩ nhiên người được chữa khỏi bệnh phải trả tiền rất cao hoặc trả
    bằng các vòng bạc. Uỷ ban hành chính của các xã dân tộc đã cấp báo về huyện. Nhận thấy lão
    thầy mo kia có bằng chứng phạm pháp, huyện đã lệnh cho công nhân khai thác gỗ Bãi Hà kết
    hợp với dân quân vây bắt tên Tổng vương ấy. Chuyện đó ở quê tôi ai ai cũng biết.
    Có một thời gian, đặc biệt là trong chiến tranh, hiện tượng các thầy mo có phần giảm đi.

    Nhưng hiện nay, không hiểu vì lý do gì, cách chữa bệnh bằng phép thổi bỗng lan tràn, thậm chí
    không phải chỉ ở các thầy mo trên rừng mà còn lây ra vài ba thầy kiểu đó ở dưới xuôi. Rồi
    những sự kiện trả thù nhau bằng phép thư cũng trở nên rùng rợn hơn. Đã có địa phương xảy ra
    thành vụ án lớn...
    Tôi lược kể những điều ấy không phải để biện minh cho câu chuyện mình sắp kể, mà muốn
    nói rằng, dù sao cái xóm Linh Linh kia vẫn đang còn đó, và bản thân tôi vẫn đang ở đây, thì cái
    câu chuyện này không thể không buột mồm kể ra được. Người ta học nói đã khó rồi, nhưng khi
    đã biết nói thì học sự nín lặng còn khó khăn hơn. Ví thế, tôi xin các bạn bỏ chút thì giờ nghe tôi
    kể.
    Chuyện rằng, ngày xửa ngày xưa.....

    Chương 1
    Lúc ấy chưa có cái hồ nước lớn như bây giờ. Cả mặt hồ như hôm nay ta nhìn thấy, vào thời đó
    là một lèn đá vôi cao ngất như một tháp chùa khổng lồ. Một hang động khoan thẳng vào chính
    giữa ruột núi, tường đá phẳng lì, nhũ vôi muôn hình muôn vẻ long lanh như kho bạc. Núi đá vôi
    này có tên gọi là núi Linh Linh, cách xóm Linh Linh hiện nay chừng ba chục cây số đường chim
    bay. Tuy vậy, vào cái thời đó chim chóc cũng không dám bay một mình vì rừng cây điệp trùng.
    Những tán lim cao ngất ngưỡng. Những đồi lau lách ngút ngàn. Cọp và beo rừng sống trà trộn
    với nhau. Vượn hú suốt đêm dài và những tiếng mang tác hoảng loạn.
    Nhưng nếu chỉ là sự hoang lạnh nguyên sơ ấy thôi cũng chưa thật đáng sợ. Người ta quả
    quyết rằng, cái lèn đá cao chọc trời như toà tháp ấy là chốn linh thiêng khủng khiếp .Bất kì ai có
    việc đi qua chốn ấy cũng phải cúi đầu, còng lưng xuống như mang gông. Nếu ai đó vô ý ngẩng
    lên liếc trộm nhìn lèn lập tức học máu tươi ra mà chết.
    Cả một vùng hoang lạnh âm u này có chung cái tên : vùng Thuỷ Thuỷ. Vào cái thời ấy, chủ
    nhân vùng này là những người dân mặc áo bằng vỏ cây, đào củ mài bằng những thanh đá mài
    nhòn. Những người dân miền xuôi lên rừng đốt than, lấy củi, lần đầu tiên phát hiện ra nhóm cư
    dân này đã hét toáng lên : Người rừng nguyên thuỷ ! Họ còn thêu dệt lên vô vàn những huyền
    thoại quái dị về loại người này, nào là lông lá kín cả mặt mày, móng tay móng chân dài như
    lưỡi dao nhọn, vân vân. Không ai có thể ngờ tới điều này. Cái nhóm người ăn lông ở lỗ ấy, đã
    một thời là chủ nhân suốt một vùng đồng bằng ven biển, đã từng mặc quần áo bằng vải, đã biết
    gieo trồng lúa nước, đã từng có trong tay hàng túi vàng và đồng đen.
    Cái thời huy hoàng ấy như bóng mặt trời đã tắt. Hàng trăm năm nay họ lại trở về với bóng
    đêm nguyên thuỷ. Họ trút bỏ hết áo quần, vải vóc, vứt lại những cuốc rựa dao kéo, truyền đời
    cho con cháu mối hận giống nòi và những nuối tiếc âm thầm cứ chôn chặt vào tâm khảm.
    Chuyện là thế này.
    Trong khi cuộc sống của những xóm làng dân bản địa đang âm thầm như vậy thì vào một
    năm nọ, tự nhiên có những toán người lang thang đi dọc theo theo mép biển từ hướng Bắc tiến
    vào. Có những tốp đi thẳng vào miệt trong. Có những tốp dừng lại. Những toán người ấy như
    những bầy chim trú rét bu bám vào các khe nước nấp kín dưới các chân đồi. Thế là làng mạc
    mọc lên. Thoạt đầu cuộc sống hãy còn vui vẻ lắm. Người ít, đất rộng, làm gì đến nỗi phải chen
    chúc nhau. Hai bên đã học được tiếng của nhau, đã cùng đến vui chung những buổi lễ làng, đã
    bày kinh nghiệm cho nhau cách trỉa bắp và đập đất vãi lúa.
    Dân bản địa có một nhà thờ tổ tiên bằng gỗ lim, lợp tranh. Trên bàn thờ ngay chính gian giữa

    đặt một pho tượng đồng đen to bằng cột nhà lớn. Tượng đúc hình một người đàn bà, hai chân
    đứng mở ra, hai tay chống nạnh. Già làng giải thích rằng, đó là tượng Mẹ Đất, người đã sinh ra
    giống nòi này. Cái dáng đứng kia là Mẹ đang truyền cho con cách làm nhà để ở, hai khuỷu tay
    quành ra là hai thanh kèo, còn hai chân là hai cột trụ. Nhưng người dân di cư không quan tâm
    lắm đến cái thế đứng chạng chân kia, họ chỉ chăm hăm vào cái màu đen bóng nhầy của pho
    tượng và nuốt những cục nước bọt ừng ực. Thế rồi... vào một đêm nọ, bỗng dưng pho tượng
    dồng đen trên bàn thờ tổ của người Rạc không còn đứng chạng chân, chống nạnh nữa mà lại
    nằm lăn kềnh ra . Sáng ra, người ta phát hiện thấy tượng Mẹ Đất chỉ còn có một chân.
    Sự hoảng hốt bao trùm lên khắp làng bản. Rồi những người già có bộ óc minh mẫn nhất đã
    đoán ra, chắc chắn những người lạ đã mò vào nhà thờ tổ, bẻ một chân tượng. Nhưng tại sao lại
    bẻ một chân mà không khuân đi cả pho tượng? Có thể vì pho tượng lớn và nặng quá. Mà cũng
    có thể những kẻ lạ chưa tin hẳn đây là tượng đồng đen, họ bẻ một cái chân để mang đi thử.
    Thế là một cuộc truy quét được thực hiện . Hàng chục thầy mo cỡ cao thủ của dân Rạc được
    tung ra. Những người dân di cư đột nhiên thay nhau lăn đùng ra ốm. Thoạt đầu là sốt váng đầu,
    rụng tóc, sau đó là mê sảng, phát điên, nói luyên thuyên. Các phép thư của các thầy mo không
    nhằm giết người mà chủ yếu là để cho bọn lạ phải điên loạn lên để nói ra kẻ đã bẻ chân tượng.
    Các trưởng họ của dân di cư cũng nhận ra mối nguy hiểm đang đe doạ mình. Thế là, những
    cuộc va chạm bắt đầu xảy ra. Lúc đầu còn vụng lén, ám muội, càng về sau càng gay gắt công
    khai . Dân di cư có giáo mác, tên đồng, dân bản địa có thuốc độc của các phép thư. Người chết
    khá nhiều mà cái chân của Mẹ Đất vẫn biệt tăm mất tích. Năm này qua năm khác, cả hai bên
    đều tự thấy rằng nếu cứ tiếp tục kéo dài cuộc hiềm khích này thì chẳng bao lâu nữa cả hai đều
    bị triệt hết giống nòi. Vì thế họ quyết định giảng hoà. Một cuộc rượu được tổ chức linh đình...
    Chao ôi là những cuộc rượu ! Loài người đã từng tin vào nó như tin vào một điềm lành ! Các
    già làng và trưởng họ của hai bên đã đến uống rượu. Trong cuộc rượu, người bản địa vì thật
    bụng nên ăn no uống say. Còn người di cư thì phần sợ bị thư thuốc độc, phần nữa đã có chủ
    đích sẵn nên chỉ nhấm nháp lấy lệ. Thế rồi sau đó, tất cả những già làng dân bản địa trong cơn
    say tuý luý đều được bỏ vào những chiếc rọ đan sẵn, dưới đáy rọ lại buộc thêm một hòn đá to
    và lăn xuống các bàu nước. Sau khi tiêu diệt được nhóm già làng, không đợi tan tiệc, những
    người dân di cư thắng trận đã ầm ầm giáo mác, kẻ xông thẳng vào nhà thờ tổ của dân bản địa,
    kẻ tràn tới các làng bản của người Rạc. Lửa bốc cháy rừng rực. Pho tượng đồng đen bị cướp.
    Những ngôi nhà mang dáng đứng của Mẹ Đất bị cháy trụi. Người bản địa bỏ chạy nháo nhác, bỏ
    đồng bằng lên vùng lau lách, bỏ vùng lau lách chạy lên giữa ruột rừng ngàn, rồi bỏ cả rừng ngàn
    mà chui tít lên tận cùng các lèn đá trên đỉnh Trường Sơn .

    Chuyện đó cách đây chừng trên hai trăm năm hoặc xa hơn nữa...
    Còn bây giờ đang kể về lèn đá vôi Linh Linh, cách đây một trăm năm, khi người Rạc đã thành
    loại người mặc quần vỏ cây và đào củ mài bằng những thỏi đá. Khi đó bỗng có một người miền
    xuôi lọt lên vùng Thuỷ Thuỷ này và câu chuyện pho tượng đồng đen được khơi dậy trong nỗi
    nhớ tiếc vô vọng của con cháu người Rạc.
    Người miền xuôi có mặt ở cái vùng Sơn động Thuỷ Thuỷ cách đây một trăm năm ấy là một
    người con gái chừng mười sáu tuổi. Những thợ săn mặc quần bằng vỏ cây trong một cuộc săn
    đuổi con hoãng từ trên núi cao xuống tận lèn đá vôi thì con hoãng biến mất , thay vào đó là
    một người con gái bị trói chặt vào một tảng đá ngồi chính giữa cửa hang. Cô gái bận một bộ
    quần áo trắng tinh và khuôn mặt cũng trắng dã như một xác chết. Đám thợ săn tin rằng, Mẹ Đất
    đã bắt con hoãng phải hoá kiếp không cho phép người Rạc lỡ đà chạy về xuôi. Họ cởi trói cho
    cô gái, không ai hay biết tiếng miền xuôi. Họ dẫn cô gái như dẫn con mồi ngược đường núi về
    Sơn động. Nơi đó, tộc trưởng Pung , người già nhất bản, đã sống một trăm hai mươi bốn mùa
    rẫy, biết rất rõ cái thứ tiếng uốn lượn của kẻ xuôi. ông cũng là một thầy mo cao thủ nhất vùng
    này, đủ sức bắt mọi kẻ lạ mặt phải nói ra điều bí mật trong bụng.
    Tộc trưởng Pung có cái đầu trọc lóc không hề sót lại một sợi tóc nào để có thể gợi cho người
    ta liên tưởng rằng xa xưa kia nơi đó vốn là chỗ sản sinh của tóc. Khuôn mặt ông nhăn nhó, dăn
    dúm đến mức không phân biệt nỗi đâu là hố mắt, hốc mũi, gò má. Một thân hình khô đét ngồi
    bất động trên mặt đá phẳng lì đặt phía trong cùng của hang động. Cô gái miền xuôi sau một
    cơn chết giấc, dần dần tỉnh lại và tưởng nhầm những kẻ bắt cô đã khuân luôn được pho tượng
    đồng đen về đặt ở chỗ kia. Cô hét lên, lao tới. Nhưng khuôn mặt nhăn nheo và đen sì kia bất
    giác cử động. Hai tròng mắt lồi ra. Có một luồng khí ngột ngạt phả tới khiến cho cô xây xẩm
    mặt mày và ngồi bệt xuống đất. Từ giữa cái đám nhăn nheo kia, một lỗ rộng đột ngột mở ra
    đen ngòm như hang động. Và tiếng nói phát ra từ hốc đen ấy, nghe lơ lớ và quái đản:
    - Tên mi ?
    Im lặng. Tai cô gái ù ù. Cô không tin vào hai tiếng vừa nghe được. Lẽ nào cái pho tượng gớm
    ghiếc kia lại nói được tiếng người, mà lại là tiếng miền xuôi !
    - Tên mi ?
    Vẫn im lặng. Đám thợ săn đứng quanh có vẻ sốt ruột. Những bàn chân nhấc lên hạ xuống
    thình thịch, những mũi đá nhọn trong tay cựa quậy.
    - Ai đưa mi lên đây ?
    - .....

    Ai trói mi ở hang ?
    - .....
    Mi không biết nói à ?
    - .....
    Người rừng ít kiên nhẫn hơn người miền xuôi. Thế nên chỉ sau vài câu hỏi không được trả
    lời, khuôn mặt tộc trưởng Pung đột ngột xám lại. Một luồng ám khí toả ra. Hai con mắt lồi hẳn
    ra găm một cái nhìn như hai mũi tên khoan thẳng vào mắt cô gái. Đây là phép thư khui tỉ, mà
    theo các nhà sinh học thời nay gọi là phép thôi miên.
    Cô gái bỗng thấy u tối. Cả một không gian mờ ảo, chập chờn, đầu đột nhiên hâm hấp nóng,
    tim đập rộn ràng. Cô bỗng sợ hãi như đang đi bập bềnh trên gờ của miệng núi. Trong cơn bàng
    hoàng ấy, cô đột nhiên nhớ lại, hầu như không sót một điểm nào, thậm chí nhớ cả những
    chuyện mà trước đây cô không hề bận tâm đến.
    Đấy là vì sao cha cô lại bán cô cho tên cướp để đổi lấy pho tượng ? Và vì sao khi đã dắt cô ra
    khỏi nhà rồi, tên cướp lại quay lại và ngay trong đêm ấy hắn lại ôm pho tượng trong tay. Cô
    mường tượng thấy cha cô đã gặp tai hoạ. Rồi chỉ trong ngày hôm đó, có một toán lính phi ngựa
    ập vào rừng cây nơi toán cướp đang ẩn náu. Thế là chạy. Tên tướng cướp bỏ cả đồng bọn mà
    chạy. Hắn khoẻ như một con trâu mộng. Một tay hắn ôm khư khư pho tượng đồng đen được
    trùm bằng tấm nhiễu đỏ. Một tay hắn túm chặt lấy tay cô mà kéo đi xoành xoạch. Cô không
    nhìn rõ pho tượng, chỉ thấy một khối đỏ lòm, phía dưới lòi ra một cái chân đen thui. Cái vật
    trông gớm ghiếc như một thai nhi bị vứt bỏ của ngưòi đàn bà chửa hoang nào đó ! Thế mà cha
    cô đã đổi cả tấm thân cô, đứa con gái mười sáu tuổi, đẹp nhất vùng đầm lác để lấy nó.
    Không có một tên tay chân nào bám được tên cướp. Trong túi áo nó chỉ có mấy mẩu bánh
    sắn khô. Nó chạy suốt chiều suốt đêm cả ngày hôm sau nữa. Tiếng ngựa của quan quân vẫn hí
    vang phía dưới rừng lau lách. Đến lèn đá vôi thì tên tướng kiệt sức. Hắn đã trói cô vào cửa hang
    rồi ôm cái bọc đỏ kia đi vào phía trong . Chừng một giờ sau hắn quay ra, nhìn cô nói :
    - Từ nay em sẽ là thần giữ của cho ta. Hãy chung thuỷ nếu như không muốn bị trừng phạt
    như cha cô !
    Thế rồi hắn thất thểu bước đi . Cô chẳng thể nào nhận ra bước đi của hắn vì sinh lực cô đã
    kiệt. Cô rũ xuống trong nỗi khiếp đảm kinh hoàng...
    Khuôn mặt xám xịt của tộc trưởng Pung bỗng giãn ra, hai con ngươi thu lại. Cô gái chợt
    choàng tỉnh như vừa đi qua một giấc chiêm bao. Tộc trưởng Pung từ từ đứng dậy, nhìn ra cửa
    động rồi bỗng rú lên một tiếng thét quái dị Hi mi ti hi....phiệt lấy cô tâu... phiệt lung lung .

    Cả đám thợ săn đột ngột quỳ xuống , mắt ngước lên vị tộc trưởng . Nhưng tộc trưởng Pung đã
    quay lại phía cô gái và nói bằng cái giọng lơ lớ miền xuôi :
    - Thế là ta đã tìm thấy tổ tông.... Lạy Mẹ Đất, Người vẫn muốn chúng con từ bỏ hang động để
    về xuôi làm cái nhà theo dáng của Mẹ cho nên Mẹ đã giúp ta đọc được mọi ý nghĩ của con bé
    này. Nhưng Người đã mất một chân, cái vài nhà không thể trồng một cột... Con hiểu ý mẹ rồi....
    Nào các con! Ta đi thôi...
    Tộc trưởng Pung chỉ tay xuống phía có lèn đá vôi nơi vừa phát hiện ra cô gái bị trói. Thế là
    đám thợ săn rùng rùng chạy đi, hét vang những câu quái đản, họ dắt theo người con gái lúc ấy
    đang bàng hoàng khiếp đảm, đi vào sâu trong lèn đá Linh Linh!
    Cuộc tìm kiếm kéo dài suốt cả ngày. Bao nhiêu nhũ đá đẹp đều bị đập nát. Những hốc nước
    trong veo bị đào bới, nước cuộn lên một màu đục như sữa. Cả cái hang động đẹp như cảnh tiên
    phút chốc tan tành xơ xác. Nhưng vẫn không tìm thấy hình hài Mẹ Đất. Cô gái bị trói chặt vào
    cửa hang , và toán người mặc quần áo vỏ cây ấy rùng rùng ra về cùng với những câu rủa quái
    dị.
    Ngày hôm sau đám thợ săn lại đến. Cuộc đào bới, đập phá lại tiếp tục. Ngày hôm đó họ rút về
    sớm hơn hôm trước sau khi đã ném lại cho cô gái một miếng thịt nai được nướng sém. Những
    ngày sau, các cuộc tìm kiếm trễ nãi dần và những miếng thịt quẵng cho cô cũng bé dần cho đến
    một ngày nọ thì không ai đến nữa. Cô gái ngất xỉu. Người hâm hấp sốt. Sên vắt bu bám từ chân
    lên tận ngực, cổ.
    May sao lúc đó, cứ như có phép thần tiên, một người đàn ông xuất hiện. Đấy là tên đồ đệ của
    tướng cướp. Tên anh ta là Hi . Hi đã lần dò tìm theo vết chân của tướng cướp không phải vì sự
    trung thành mà vì cái bọc nhiễu đỏ đầy hấp dẫn ấy. Hi cởi trói cho cô gái , cho cô ăn bánh gạo.
    Cô gái tỉnh dần. Nhận ra người miền xuôi, dù biết đó là kẻ cướp, cô cũng thấy bồi hồi như từ
    địa ngục gặp người trần gian... Cô vừa khóc vừa kể. Hi chăm chú lắng nghe, sau đó anh lặng lẽ
    vào hang một mình. Bằng con mắt của tên ăn trộm lành nghề, cộng với trí óc khôn ngoan miền
    xuôi, sau chừng một giờ tìm kiếm, Hi đã phát hiện ra chỗ dấu tượng được đào bằng mũi kiếm
    sắc khác hẳn với các vệt đào bằng thỏi đá của người rừng.
    Đêm đó họ trốn khỏi lèn đá Linh Linh, đạp tắt rừng lau về tít dưới đồng bằng. Họ không dám
    về xóm cũ bởi sợ người rừng đuổi theo, lại sợ tên tướng cướp mò về, rồi sợ cả toán quan quân
    đang săn đuổi. Họ đi chếch về phía nam. Sau bảy ngày đói rã rời, họ gặp một vạt đất bên bàu
    nước đầy rêu đen. Hi dừng lại. Cô gái cũng mệt xỉu lăn xuống đất thiếp đi. Khi cô tỉnh dậy thì
    pho tượng đã không còn trong tay Hi nữa. Mãi về sau này, cô vẫn âm thầm tự trách mình yếu
    đuối, chưa được một lần nhìn thấy mặt pho tượng. Cái duy nhất mà cô nhìn thấy là một cục đỏ

    lòm và phía cuối lòi ra một cái chân đen thui thủi.
    Một chiếc lều lợp bằng lá được dựng lên nằm cạnh bàu nước đầy rêu đen. Đấy là ngôi nhà đầu
    tiên của cái làng Linh Linh sau này.

    Chương 2
    Cuộc sống mới dễ thương làm sao ! Một túp lều lợp lá bên mép nước đầy rêu cỏ, đôi vợ chồng
    trẻ hí hú bên nhau, ngày xuống bàu xúc tép, đêm đặt đó đơm tôm. Sáng mai, người vợ choàng
    một tấm khăn trùm kín nửa mặt xách tôm tép ra mặt đường cái, chồng lặng lẽ đi ngược về phía
    rừng một đoạn chặt củi mang về. Họ không dám đi đâu xa vì sợ phải chạm trán với những kẻ
    đang săn bắt họ. Chuyện cũ đã lùi xa. Mười năm, rồi hai mươi năm, họ không còn son trẻ nữa.
    Có lẽ những kẻ săn tìm họ hoặc đã chết, hoặc cũng quên mất họ rồi. Ngay cả với Li, cô gái trẻ ấy
    nay đã là một người đàn bà luống tuổi. Hầu như cũng quên mất cái nguyên cớ đẩy cô vào cuộc
    sống này. Li an phận với cái gia đình nhỏ nhoi này, với bảy đứa con gái đã sinh ra quây quần
    ríu rít bên mẹ. Và chỉ một căn nhà bên bàu nước, sau mấy lần làm đi làm lại, nay đã mở rộng ra
    thành một gian hai chái và lợp bằng cỏ tranh. Xung quanh nhà, vườn tược đã um tùm. Sắn
    trồng hàng sào, mít chè có đến hàng trăm cây. Cuộc sống chẳng giàu sang nhưng cũng không
    đến nỗi cù bơ cù bất. Chẳng hơi đâu mà nhớ chuyện đời xưa.
    Nhưng Hi thì không thể quên được. Cái bọc đỏ ấy đã được ông chôn kỹ vào một góc rừng, bây
    giờ góc rừng ấy đã lọt vào gần giữa khu vườn mênh mang của ông. Đấy là một khối lượng của
    cải khổng lồ không chỉ đủ sức cho ông thành một đại địa chủ mà thậm chí có thể xây cất được
    cả một phố xá sầm uất. Nhưng Hi vẫn không sao đào cái bảo vật ấy lên được, bởi suốt mấy
    chục năm nay lúc nào Hi cũng cảm thấy tai hoạ cứ chập chờn quanh mình . Trong giấc ngủ,
    khuôn mặt dữ tợn của tên tướng cướp hiện lên cùng với mũi kiếm sắc lạnh. Rồi đám người
    rừng lông lá dữ tợn với những chiếc quần vỏ cây đen sì cũng rùng rùng hiện ra. Hi hét lên thất
    thanh khiến con cái cả nhà cùng choàng dậy kêu khóc. Có lần đi chặt củi, một cành khô bất ngờ
    gãy xuống, một chú hoãng đâu đó nhảy chồm lên lao bừa qua đầu Hi khiến ông vất hết rìu rựa
    mà chạy. Về đến nhà Hi ốm liệt giường hàng tuần lễ. Trong những cơn sốt mê sảng, Hi ú ớ nói
    những câu quái dị, rằng không phải tôi chôn mà nó tự về, rằng tôi cất là cất cho chủ tướng của
    tôi chứ không phải tôi cố tâm cướp đoạt.... Những đứa trẻ sợ xanh mang. Nhưng khôn ngoan
    của con người bao giờ cũng là mầm mống của tai hoạ. Người con gái lớn bắt đầu để ý tới
    những cơn mê sảng lặp đi lặp lại của bố. Cô ta linh cảm thấy có điều gì đó không được minh
    bạch trong ngôi nhà này. Thế là cô bắt đầu tra khảo mẹ.
    Mẹ cô đã sợ hãi nói dối con. Nhưng đâu có phải vài lần gặp nhau ở chợ búa mà dối nhau
    được. Cuối cùng, câu chuyện về pho tượng đồng đen một chân đã lọt vào tai cô gái đầu. Cô đầu
    biết thì cô hai cũng biết. Rồi cô ba, cô bốn cho đến đứa bé út mới sáu tuổi cũng biết. Chúng nó
    đột ngột vây lấy bố mà hỏi, chúng còn đòi bố đưa ra để chúng xem. Ông Hi tái xanh mặt mày,

    hét tướng lên bắt lũ trẻ im miệng. Chúng nó khóc, ông vác rựa ra đòi chém. Bà Hi sợ hãi vừa
    khóc vừa lạy. Thế rồi ông Hi đâm ra trở tính , ngày không dám lên rừng, đêm không dám ngủ
    trong buồng, ông bắt vợ khiêng giường của ông ra đặt ngay chính gian giữa , ông nằm ở đó,
    mắt mở thao láo , mặt mày phờ phạc, tóc trên dầu rụng dần, nói năng ngớ ngẩn. Bà Li run sợ
    thắp hương khấn vái. Càng khấn ông Hi càng ốm nặng. Cuộc sống trong gia đình bỗng chốc trở
    nên u ám, nặng nề....
    Một hôm, có một người thanh niên khoác chiếc bị cói lần dò đến khu nhà này. Đấy là người
    khách đầu tiên tìm đến kể từ ngày Hi và Li lập làng ở đây. Ông Hi ngồi chồm dậy giữa chiếu hai
    tay run rẩy bíu lấy thành giường, mắt nhìn người khách đầy kinh hãi . Cô gái đầu đứng chôn
    chân ở hồi nhà nơi có lối xuống nhà bếp. Cô hai nép người sau lưng mẹ , nín thở như sắp bị bắt
    đi. Lũ trẻ con thì vô tư hơn, chúng vây quanh cái bị cói của người khách tò mò nhìn ngó. Cả nhà
    không ai cất lời chào. Tất cả nín thở. Người khách mỉm cười chào họ. Anh có cái miệng rộng,
    hàm răng hơi vẩu nhưng dễ ưa.
    - Tôi bán thuốc. Thuốc bắc và thuốc nam. Nghe ngoài chợ họ nói bác trai nhà này bị ốm cho
    nên tôi mới vào. Bác có thể khỏi bệnh mà tôi cũng có tiền tiêu. Được chớ !...
    Người khách nói một cách tự tin rồi đưa tay cầm lấy cổ tay của ông Hi, không cần biết chủ
    nhà có cho phép không. Anh xem mạch một lúc rồi nói:
    - Chà mạch của bác cả ba bộ thốn, quan, xích đều yếu ! Mạch hồng và sác. Biểu nóng, lý lạnh.
    Can mộc thì vượng, thận thuỷ vô lực, tâm hoả mạch đuổi như ngựa phi, chứng này sẽ sinh ra
    tâm thần bất định, ăn ngủ chập chờn, đổ mồ hôi trộm, mê sảng lung tung...
    Bà Li nhìn người thầy lang trẻ chằm chằm. Chà, thầy thế mới là thầy chứ. Đôi mắt bà dịu lại,
    thầm biết ơn người khách quý. Buông tay ông Hi người khách đứng lên:
    - Bệnh trạng thì tui nói vậy, chẳng biết đúng sai thế nào... có bốc thuốc hay không là tuỳ hai
    bác.
    - Có chứ, có chứ -Bà Li vội kêu lên- Anh đã làm ơn xem mạch thì cũng mong anh ra ơn bốc
    thuốc, bao nhiêu tiền tui cũng chịu.
    Người khách mở bị cói ra. Hàng mấy chục gói thuốc khác nhau phả mùi thơm phức. Anh căng
    ra tờ giấy, bốc từ trong các gói kia ra những nhát thuốc vàng quánh, trắng hếu hoặc đen thui
    thủi. Anh gói lại rồi dặn:
    - Nước đầu sắc hai chén rưỡi lấy lại một chén. Nước hai, sắc hai chén lấy lại tám phân. Uống
    trước bữa ăn. Ngày mai tôi đến xem lại mạch rồi sẽ tính tiếp.
    Người thầy lang trẻ đi ra, dáng điệu thanh thản. Cả nhà nhìn theo thở phào.

    Một ngày một đêm trôi qua, bệnh tình ông Hi thuyên giảm rõ rệt. Đêm ấy ông ngủ ngon,
    tiếng ngáy đều đặn. Sáng mai ông dậy sớm đòi ăn cháo. Người thầy lang đến muộn hơn lời hứa
    khiến cả nhà cứ ngóng mãi. Anh ta cười từ ngõ cười vào:
    - Cái nghề này thật khó y hẹn hai bác ạ. Đêm qua phải đi xem mạch cả đêm. Một chị phụ nữ
    bất ngờ lên cơn điên, trông thật là tội...
    Vừa kể chuyện anh ta vừa quờ tay ra túm lấy tay ông Hi. Lần này anh xem mạch nhanh hơn:
    - Khá rồi. Vài thang nữa là khỏi.
    Nói rồi anh lại ngã chiếc bị ra bốc thuốc. Các cô gái lúc này không còn sợ sệt nữa. Trừ cô gái
    đầu , còn tất cả chúng nó đều ngồi xổm xuống nhòm vào chiếc bị. Người thầy lang trẻ, vui tính,
    mở tung ra một gói táo, bốc cho mỗi người một quả. Đứa lớn thẹn thò không dám đưa tay ra,
    nhưng cô út đã nhanh nhẩu vồ lấy cho vào miệng. Rồi thì tất cả cùng bốc táo. Anh thầy lang
    chìa một quả cho cô gái đầu:
    - Này, thử cái xem, chả chết người đâu mà sợ.
    Cô gái cười chín đỏ cả hai gò má. Anh thầy bước tới nhét quả táo vào tay cô rồi cười ha hả
    bước ra khỏi nhà.
    Năm ngày trôi qua, thầy lang trẻ lui tới nhà ông Hi năm lần, bốc năm thang thuốc. Bệnh tình
    ông Hi coi như đã lui hẳn. Thầy lang trẻ trở nên người bạn chí cốt của gia đình. Ngày cuối cùng,
    cả nhà đã đồng loạt nài nỉ thầy ở lại ăn bữa cơm dưa muối với gia đình.. Sau một hồi ngần ngừ,
    nhăn nhó, cuối cùng thầy buộc phải nhận lơì.
    Cho đến bữa cơm ấy người trong nhà mới có dịp hiểu thêm về thầy. Thầy tên là Ngang, dân
    gốc trong Kinh đô , nhưng lớn lên ở Phong Điền trong nhà ông chú ruột. Chú anh là thầy lang
    gia truyền nổi tiếng chữa bệnh phong tình.Theo lời Ngang kể, anh không chỉ học được cách
    xem mạch, kê đơn, bốc thuốc mà còn nhập tâm được bí quyết bỏ bùa. Muốn cho ai mê say
    mình, chỉ cần một lá bùa nhỏ dán vào dấu chân hay vết tay là có thể dắt mũi họ đi theo mình
    suốt đời. Cả nhà cười hô hố. Các cô gái thích thú ra mặt, ả gái đầu bỉu chiếc môi dài, tỏ ra không
    tin. ả thứ hai thì gân cổ lên cãi và thậm chí còn thách đố. Bà Li hơi chờn chợn trong bụng, ông
    Hi thì hoang mang. Tất nhiên người khách biết ý, chẳng tán tụng thêm câu nào. Hàm răng vẩu
    của anh nhai cơm một cách đầy hăm hở.
    Thế rồi thầy lang Ngang xách gói ra đi. Một ngày sau thầy không quay lại. Cô gái đầu buồn
    xỉu mặt. Ngày thứ hai vẫn vắng bóng thầy. Cô gái đầu lầm lì không nói. Ngày thứ ba, cô sinh ra
    cáu gắt, quát mắng lung tung. Ngày thứ tư, cô hát, cái giọng rè rè nửa trống nửa mái cất lên
    nghe như tiếng bánh gỗ xe trâu. Đám em út ôm bụng cười. Bà Li tái mặt, ông Hi lầu bầu chưởi.

    Ngày thứ năm cô cười nhạt. Thật là vô duyên và vô cớ. Cô cười như con đười ươi trong chuyện
    cổ tích. Cười chán chê suốt ngày, chập tối ăn cơm xong thì cô đột ngột im lặng. Lại sắp chuyển
    qua thứ quái dị nào đó chăng? Cả nhà hồi hộp chờ. Nhưng khi bà mẹ chuẩn bị lên giường nằm
    ngủ thì lũ em út mới chợt phát hiện ra chị cả chúng nó đã biến khỏi nhà. Ông Hi hoảng hốt đốt
    bó đuốc chạy bủa ra bìa rừng, đạp tắt đường về phía chợ. Vẵn biệt tăm mất tích. Bà mẹ khóc
    tấm tức. Lũ con nít vẫn rúc rích cười . Ông Hi điên tiết chưởi:
    - Cười cười cái con mạ chúng mày! Ăn bùa cả lũ rồi... Cả nhà đều quả quyết như vậy. Nỗi căm
    tức dồn vào thầy lang trẻ. Biết tìm hắn ở đâu? Một đêm trôi qua, lại thêm một ngày nữa... Thầy
    Ngang không quay lại mà cô gái đầu cũng chẳng quay về. Cả nhà buồn như có tang.
    Gần một tuần sau, trong lúc ông Hi và bà Li đã hoàn toàn thất vọng thì đột ngột Ngang quay
    lại. Vẫn cái hàm răng vẩu âý cười một cách vô tư từ ngoài ngõ. Ông Hi giật cây rựa trên mái nhà
    lao bổ ra. Bà Li hốt hoảng giằng tay ông lại. Ngang hầu như không thèm để tâm đến sự căm
    giận ngút trời ấy, anh bước vào nhà, thản nhiên ngồi ghế, giọng nói vẫn cởi mở!
    - Cô La đang ở chỗ tôi...
    Trời đất ơi, thế có mặt dạn mày dày không chứ! Ông Hi rít hai hàm răng lại, chồm người tới:
    - Mi...mi bỏ bùa con tao! Đồ chó!...
    Ngang cười hô hố:
    - Thì cả nhà thách đố tôi kia mà. Bây giờ đã chịu hẳn chưa?
    Ông Hi giận tím mặt, cây rựa run run trong tay. Bà Li mếu máo túm lấy vạt áo Ngang, mắt
    rơm rớm nước:
    - Thôi thì... lạy thầy! Lạy thầy trăm lạy... Thầy đã thương đến gia đình cháu..đã ra tay chữa
    chạy cho bố cháu... Công ơn ấy đến chết cũng không báo đáp hết được. Nhưng thầy đã thương
    thì thương cho trót, thầy cho cháu nó về.. cháu nó còn phải chăm sóc các em... Tội nghiệp ! Các
    em cháu còn quá nhỏ dại..
    Bà đột ngột quay lại lũ trẻ, vừa méu máo vừa quát:
    - Chúng bay quỳ xuống đi! Quỳ xuống mà lạy thầy đi các con! Trăm lạy, ngàn lạy thầy tha cho
    chị về...Mau lên đi, các con!
    Nước mắt bà trào xuống má. Lũ trẻ cùng oà lên khóc. Cả căn nhà nháo nhác như đưa ma.
    Hình như thầy cũng xúc động, cho nên giọng thầy đột ngột trầm hẳn xuống, đầy quan trọng:
    - Nếu tôi không thương hai bác, không thương các em thì tôi không quay trở lại- Anh khẽ thở
    dài rồi quay nhìn lũ trẻ- Bác gái đưa các em xuống dưới bếp, tôi có chuyện muốn thưa với bác

    trai.
    Bà Li giang cả hai tay ra lùa đám trẻ như kiểu lùa vịt xuống nhà bếp. Còn lại hai người đàn
    ông ngồi đối diện nhau giữa căn nhà. Bà Li đứng thập thò ở máng xối đầu hồi nhà lắng tai
    nghe.
    - Bác hãy cất cây rựa đi, ta cần cởi mở với nhau.
    Ông Hi lầu bầu:
    - Kệ tau. Mi muốn nói chi cứ nói...
    - Cất rựa đi đã! Thầy lang ra lệnh. Nếu không tôi chỉ cần lệch bàn tay một cái bác lại phát điên
    ngay tức khắc. Lúc ấy chẳng còn thứ thuốc thang nào chữa nổi đâu.
    Ông Hi hơi tái mặt nhưng vẫn chần chừ, bà Li vội vàng chạy lên giật cây rựa trong tay ông rồi
    lại hớt hải chạy xuống bếp.
    - Con gái bác đang ở chỗ tôi...thật là phiền. Tôi chẳng muốn tí nào. Thời buổi làm ăn khó lắm,
    chẳng đủ nuôi cơm...
    - Mi...mi...đù mạ! Chính mi đã bỏ bùa con tau...lại còn...
    - Làm gì có chuyện bùa mê! Chẳng qua hôm nọ tôi nói đùa vậy để làm vui cho lũ trẻ thôi.
    - Láo! Nếu không thế...vì răng con La lại trốn theo mi?
    - Cô ta thích tính tôi...Mấy lại, cô ta không ra khỏi nhà này thì tính mạng bác sẽ bị đe doạ.
    Ông Hi chồm người dậy khỏi ghế.
    - Cái chi? Ai đe doạ ta?
    - Thần
    - Thần nào?
    Cả nhà bỗng nín lặng. Linh cảm mách bảo cho ông Hi, bà Li thấy ta hoạ đang chập chờn trước
    ngõ. Thầy Ngang khẽ hắng giọng nói nhẹ nhàng:
    - Cái bệnh của bác tuy uống thuốc vào có đỡ ra nhưng không thể khỏi hẳn được đâu. Bởi nhà
    bác có phạm một điều quá ghê gớm. Nhà bác có đến mười người, đó là sự sai phạm không chi
    tha thứ được. Thánh nhân đã nói, nhân bất thập toàn. Bác cứ chịu khó đi các nhà thờ, các đình
    chùa miếu vũ mà coi, có ai thờ mười con rồng đâu? chỉ có chín con thôi. Chín bỏ làm mười
    mà...
    - Nhưng... nhà tôi răng lại mười người? Có bảy chị em chúng nó với hai vợ chồng tôi...
    - Có một người nữa. Bác đừng lấy vải thưa che mắt thánh!

    Mặt ông Hi tái nhợt. Ở đầu chái bếp, hai đầu gối bà Li run run.
    - Nói vậy chứ tuỳ bác. Bác nghe lời thánh thì sống không nghe thì phải rước lấy tai họa. Một
    là bác phải bán gả cô La đi. Hai là phải đẩy cái hình nhân đi khỏi nhà. Ba là...bác phải chết. Tôi
    thương gia đình nên mới quay lại đây tiết lộ cơ trời, còn bản thân tôi cũng chẳng sức đâu mà
    ôm rơm dậm bụng...
    Thầy ngang đứng dậy, đôi mắt đùng đục nhìn thẳng vào ông Hi. Trong cái giây phút tâm thần
    bất định ấy, ông Hi nhìn thầy trước mặt mình không phải là thầy thuốc trẻ, có tài, vui tính, mà
    là một lão phù thuỷ tin quái và bí hiểm. Cả người ông lạnh đi, đầu óc mụ mẫn không con nghĩ ra
    được một câu đối đáp nào. Ngang bước ra khỏi mái nhà, lửng thửng đi thẳng. Cả nhà nín lặng
    nhìn theo...
    Những ngày sau đó, thầy Ngang không trở lạ. Một không gian âm u bao trùm lấy căn nhà một
    gian hai chái bên bờ bầu nước đầy rêu đen. Không ai trong nhà còn thiết làm một công việc gì
    nữa. Ngay cả lũ trẻ cũng cảm thấy có gì đó không tốt lành sắp sửa xảy ra với bố mẹ, cho nên cả
    lũ cũng trở nên buồn bã, chẳng ...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS & THPT PHẠM HỒNG THÁI - CHƯ PĂH - GIA LAI!