Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
Tu duy Logic D Q Mcinerny

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Diệu Huyền (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:41' 10-05-2024
Dung lượng: 438.3 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Diệu Huyền (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:41' 10-05-2024
Dung lượng: 438.3 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Tư Duy Logic
Lời giới thiệu
Lời tựa
I.Nền tảng cho tư duy logic
II.Những quy tắc logic cơ bản
III.Lập luận:Ngôn ngữ của logic
IV.Nguồn gốccủa tư duy phi logic
V.Những dạng tư duyphi logic chính
Lời cuối sách
Lời giới thiệu
(Cho bản tiếng Việt)
Bạn đọc thân mến!
Triết gia, nhà khoa học người Pháp Rene Descartes đã từng
nói: “Có trí óc tốt vẫn chưa đủ, quan trọng là phải sử dụng tốt
nó.” Thật vậy! Những thao tác so sánh, phân tích, liên tưởng,
phán đoán, suy luận,… vốn bẩm sinh trong não bộ của tất cả
mọi người nhưng không phải ai cũng vận hành chúng một
cách hoàn hảo. Chúng sẽ trở thành công cụ đắc lực cho công
việc và cuộc sống của bạn nếu được bồi dưỡng và phát triển
đúng hướng. Rèn luyện và nâng cao các kỹ năng tư duy không
dễ dàng nhưng không phải là không thể.
Trong cuốn Tư duy logic, bạn sẽ có được những nền tảng thiết
yếu để hiểu và vận dụng các quy tắc tư duy logic như một lợi
thế trong cuộc sống hàng ngày.
Tư duy logic khác với bất kỳ cuốn giáo trình logic học nào bạn
từng đọc, tính logic của nó thể hiện ngay từ cấu trúc nội dung
chặt chẽ và ở cách trình bày ngắn gọn, rõ ràng. Bạn sẽ gặp lại
những kiến thức logic cơ bản như khái niệm, mệnh đề, lập
luận, ngụy biện,… nhưng bằng lối dẫn dắt mạch lạc và giản dị.
Mỗi vấn đề logic được cụ thể hóa nhờ những phân tích thấu
đáo, những ví dụ thiết thực và những bình luận sâu sắc từ trải
nghiệm và hiểu biết của nhà triết học McInerny.
Dưới sự dẫn lối của logic, bạn sẽ biết cách đưa ra những kết
luận đúng đắn và xây dựng những lập luận chặt chẽ thuyết
phục người nghe. Thú vị hơn, bạn sẽ có thêm cái nhìn mới, từ
cấu trúc lý thuyết cho tới tình huống thực tiễn của các bẫy
ngụy biện thường mắc phải mà không hay biết.
Logic không đơn thuần là những khái niệm và công thức khô
khan, nó thật sự là một nghệ thuật. Hãy để McInerny đưa bạn
vào thế giới logic đầy kỳ thú và bất ngờ ấy!
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH ALPHA
Hà Nội, tháng 2 năm 2013
Lời tựa
Logic là lối tư duy rành mạch và hiệu quả. Nó vừa là khoa học
vừa là nghệ thuật. Mục tiêu của cuốn sách này là giới thiệu
những nguyên tắc cũng như những kỹ năng cơ bản liên quan
đến khoa học – nghệ thuật logic.
Chúng ta đều biết những người thông minh không phải lúc nào
cũng toả sáng nếu thiếu tư duy logic. Họ có khả năng tư duy
rành mạch và hiệu quả nhưng khả năng đó không biểu hiện
đều đặn. Rất có thể họ chưa từng được bồi dưỡng khả năng tư
duy logic một cách đúng đắn do lỗ hổng trong hệ thống giáo
dục. Thực chất, logic là xương sống của nền giáo dục chân
chính nhưng nó lại hiếm khi được giảng dạy trong nhà trường
Hoa Kỳ. Theo cá nhân tôi, logic chính là mảnh ghép còn thiếu
trong hệ thống giáo dục, là môn học nền tảng cho những môn
học khác, từ Anh văn đến Lịch sử, Khoa học hay Toán học.
Khi đọc cuốn sách này, vài độc giả, đặc biệt là những người
lần đầu tìm hiểu về logic, có thể sẽ có cảm giác ngao ngán khi
nhìn thấy những từ ngữ chuyên ngành hay những ký hiệu
thường được sử dụng trong logic. Đừng bỏ cuộc bởi những ấn
tượng ban đầu đó. Tôi đã nỗ lực trình bày những nội dung khô
cứng một cách đơn giản và dễ hiểu nhất. Tuy nhiên, tôi cũng
tránh sa vào sự giản dị thái quá. Một thứ logic đơn giản quá
mức không còn là một logic nữa. Vài bạn đọc khác sẽ bỏ qua
những điều tưởng như hiển nhiên được nhấn mạnh. Đúng là
trong cuốn sách này, tôi có chủ ý đề cao việc nhấn mạnh
những điều hiển nhiên. Trong logic cũng như trong cuộc sống,
cái hiển nhiên mới là cái cần được nhấn mạnh vì chúng thường
bị bỏ qua. Nếu tôi nhấn mạnh những điều đã quá rõ ràng và
thường chọn những quan điểm rành mạch thay vì những quan
điểm ngầm ẩn, đó là vì tôi trung thành với quy tắc sư phạm lâu
đời rằng giả định càng ít càng an toàn.
Nhìn tổng thể, logic là một lĩnh vực sâu rộng và đa dạng đến
tuyệt vời. Tôi sẽ rất mãn nguyện nếu các độc giả của mình sau
khi đọc xong cuốn sách nhỏ này không còn cảm giác xa lạ với
logic nữa. Còn mục tiêu trực tiếp của tôi lại rất khiêm tốn. Tuy
cuốn sách không phải là một chuyên luận về lý thuyết logic
học, cũng không phải là một cuốn giáo trình về logic nhưng tôi
vẫn không thôi hy vọng nó được đón nhận trong các lớp học.
Mục tiêu chủ yếu của tôi là viết một cuốn cẩm nang thực hành,
trình bày những nguyên tắc cơ bản phù hợp với những người
lần đầu tìm hiểu về logic. Tư duy logic hướng đến mục tiêu
sinh ra những thực hành gia chứ không phải những lý thuyết
gia – những người không chỉ hiểu mà còn vận dụng được các
quy tắc logic.
Để đạt được kết quả thực tiễn tối đa cho cuốn sách, tôi sử dụng
lối văn phong giản dị, thường đối thoại trực tiếp với độc giả,
đôi khi là giọng điệu chỉ thị rõ ràng khi cần hướng dẫn, nhấn
mạnh. Tôi chia logic thành năm giai đoạn, được trình bày
thành năm phần, giai đoạn sau được xây dựng dựa trên giai
đoạn trước. Phần Một mang tính chuẩn bị và đưa ra cấu trúc tư
duy đúng đắn – nền tảng không thể thiếu để thực hành tư duy
logic. Trong phần Hai và Ba, phần trọng tâm của cuốn sách,
chúng ta sẽ đi sâu vào lãnh địa của logic học. Phần Hai giải
thích những chân lý nền tảng chi phối tư duy logic, phần Ba
tập trung vào lập luận – biểu hiện rõ ràng nhất của tư duy
logic. Trong phần Bốn, tôi bàn đến thái độ và cấu trúc trí tuệ
hình thành lối tư duy phi logic. Cuối cùng, phần Năm tập
trung vào những dạng đặc biệt của tư duy phi logic – các ngụy
biện.
Lời cuối cùng, tôi muốn bày tỏ sự ngưỡng mộ và đánh giá cao
với cuốn sách rất sắc sảo The Elements of Style (Tạm dịch:
Các yếu tố của văn phong) của hai tác giả William Strunk, Jr.
và E. B. White. Cuốn sách đã gợi nguồn cảm hứng cho Tư duy
logic. Những gì tôi cố gắng đạt được trong cuốn sách này
không thể sánh được với thành tựu độc nhất vô nhị của Strunk
và White, nhưng tôi hy vọng Tư duy logic thành công trong
chủ đề tư duy ở một mức độ nào đó như thành công mà Các
yếu tố của văn phong đã đạt được trên lĩnh vực sáng tác. Ước
muốn tha thiết nhất của tôi là cuốn sách này thuyết phục thành
công các độc giả về tầm quan trọng của logic trong thực tiễn.
Hy vọng cuốn sách này sẽ giúp độc giả nhận thức đúng về sự
đồng hành của cảm giác hạnh phúc và tư duy logic.
– D. Q. MCINERNY –
I.Nền tảng cho tư duy logic
Logic và ngôn ngữ là hai phạm trù không thể tách rời, bởi thế
trong tư duy logic bao hàm cả sự nhanh nhạy và khéo léo
trong sử dụng ngôn ngữ. Logic phản ánh thực tại nên nó tôn
trọng chân lý bền vững của thế giới mà chúng ta đang sống.
Thêm nữa, nó còn phản ánh chân lý nên bao hàm cả những
nhận thức sống động trong tâm trí chúng ta về cách tạo ra ý
tưởng từ những khách thể trong thế giới. Phần đầu tiên này,
tôi dành để thảo luận về những thái độ, quan điểm và các
phương pháp thực tiễn. Đó sẽ là những nền tảng cần thiết để
chúng ta bước vào thế giới logic.
1. Lưu tâm
Một trong những nguyên nhân khiến chúng ta hay phạm sai
lầm trong lý luận là do không dành đủ quan tâm cho các tình
huống mình gặp phải. Điều này lại càng đúng với những tình
huống quen thuộc. Sự quen thuộc chính là nguyên nhân khiến
chúng ta bất cẩn khi đánh giá. Chúng ta hiểu sai tình huống vì
chúng ta chỉ nhìn lướt qua, trong khi đáng ra phải xem xét
chúng kỹ càng. Thông thường, chúng ta cho rằng một tình
huống quen thuộc là sự lặp lại của một tình huống tương tự
chúng ta từng trải nghiệm. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận khắt khe
hơn, sẽ không bao giờ có những tình huống lặp lại. Mỗi tình
huống đều độc nhất vô nhị và chúng ta cần phải thừa nhận tính
chất này.
Cụm từ “lưu tâm” nói lên nhiều điều. Nó nhắc chúng ta rằng
sự lưu tâm nào cũng có cái giá của nó. Lưu tâm đòi hỏi phản
ứng chủ động và nhanh nhạy trước mọi đối tượng, ở mọi nơi,
trong mọi tình huống. Không thể cùng lúc vừa hoàn toàn lưu
tâm vừa thụ động. Đừng chỉ nhìn, hãy quan sát. Đừng chỉ
nghe, hãy lắng nghe. Hãy luyện tập để bạn tập trung hơn vào
các chi tiết. Đừng bỏ qua những điều nhỏ bé vì chính chúng sẽ
dẫn ta đến với những điều lớn hơn.
2. Nhìn thẳng vào thực tại
Thực tại là những gì hiện đang tồn tại thực tế xung quanh
chúng ta. Nó tồn tại khách quan và độc lập trong cách nhìn
nhận của chúng ta.
Có hai loại thực tại khách quan cơ bản là sự vật và sự kiện. Sự
vật là một thực thể tồn tại như động vật, rau quả hay khoáng
sản. Còn sự kiện là sự việc có ý nghĩa ít nhiều quan trọng đã
xảy ra. Nhà Trắng là một ví dụ của loại thực tại thứ nhất, và vụ
mưu sát tổng thống Abraham Lincoln là loại thứ hai. Loại thứ
nhất căn bản hơn loại thứ hai vì sự kiện được tạo thành từ các
sự vật hay hành động của các sự vật. Ví dụ một buổi ăn tối
trọng thể được tổ chức tại Nhà Trắng. Sự kiện này không thể
xảy ra nếu không có sự tồn tại của thực tại đầu tiên và trước
nhất là Nhà Trắng, cùng vô số những thực tại khác nữa. Để có
thể xác minh tính chân thực của một sự kiện, cần quan tâm tới
vô số những sự vật cụ thể khác.
Để xác định liệu thực tại có phải là một sự vật hay không, tất
cả những gì bạn cần làm là đến viếng thăm nó. Nếu nó thực sự
tồn tại, nó phải ở đâu đó. Hãy giả định bạn có thể đến được
đúng địa điểm, có thể xác minh tính chân thực của nó bằng
cách quan sát. Ví dụ như trong trường hợp của Nhà Trắng. Để
xác minh đó là một thực tại chứ không đơn thuần là một ảo
tưởng, bạn hãy đến thăm thành phố Washington và ở đó bạn
có thể tận mắt thấy Nhà Trắng. Đó chính là cách trực tiếp và
tin cậy nhất để khẳng định tính chân thực. Nhưng bạn cũng có
thể tin tưởng những chứng cứ gián tiếp. Ví dụ, lời nói của
những nhân chứng đáng tin cậy hay một bức ảnh chụp cũng đủ
để xác minh Nhà Trắng thực sự ở Washington.
Nhưng còn sự kiện mưu sát Tổng thống Lincoln thì sao?
Chúng ta nói đó là một thực tại. Nhưng bằng chứng nào đảm
bảo cho tuyên bố đó? Sự kiện này đã kết thúc và không còn
nhân chứng sống nào để chứng thực. Hiển nhiên là chúng ta
không chứng kiến sự kiện này, do đó không cần phải bàn đến
chứng cứ trực tiếp. Trong trường hợp này, chúng ta sẽ tiếp cận
qua những sự vật đóng vai trò là chứng cứ gián tiếp. Ví dụ,
chúng ta có thể tham khảo những tài liệu tin cậy (báo cáo của
cảnh sát, giấy chứng tử, v.v..), bài tường thuật trên báo, hình
ảnh, hồi ký, nhật ký, và những tài liệu khác trong Hồ sơ Quốc
hội. Tất cả những tài liệu đó đều đáng tin cậy và có những lý
giải hợp lý cho tính xác thực của vụ mưu sát Lincoln. Dựa trên
tính chân thực của những sự vật này, chúng ta xác minh được
tính hiện thực của sự kiện. Và từ đó, một sự thực lịch sử cũng
dễ dàng được xác nhận.
Một thực tại có thể được nhìn nhận theo hướng khách quan
hay chủ quan. Cả sự vật và sự kiện đều là những thực tại
khách quan. Chúng tồn tại công khai và được tất cả mọi người
tiếp cận. Còn thực tại chủ quan chỉ giới hạn trong bản thân chủ
thể trải nghiệm chúng. Cơn đau đầu là một ví dụ về thực tại
chủ quan. Nếu tôi đang bị đau đầu thì tôi có bằng chứng trực
tiếp về tính chân thực của nó. Nhưng nếu bạn đang bị đau đầu,
tôi chỉ có thể xác minh nó qua những bằng chứng gián tiếp.
Việc xác minh những thực tại chủ quan hoàn toàn dựa trên
niềm tin vào lời nói của người đang trải nghiệm.
Cách nhìn nhận thực tại của chúng ta được tổng kết lại như
sau: Nếu một thực tại là sự vật có thể tiếp cận được thì cách
chắc chắn nhất để xác minh tính chân thực là xem xét sự tồn
tại của nó. Chúng ta sẽ thu được bằng chứng trực tiếp về sự
vật đó. Nếu không tìm được bằng chứng trực tiếp, chúng ta
phải kiểm tra chặt chẽ tính xác thực và đáng tin cậy của bất kỳ
bằng chứng gián tiếp nào. Dựa trên nền tảng đó, chúng ta mới
có kết luận chắc chắn về tính chân thực của sự vật.
Chúng ta rất ít khi được trải nghiệm những sự kiện công khai
quan trọng. Có nghĩa là trong hầu hết các trường hợp, chúng ta
phải dựa vào các bằng chứng gián tiếp. Khi xác minh tính
chân thực của các sự kiện thông qua bằng chứng gián tiếp,
chúng ta phải xem xét chúng kỹ càng như khi xác minh tính
chân thực của các sự vật thông qua bằng chứng gián tiếp. Tất
cả đều phụ thuộc vào tính chất xác thực và đáng tin cậy của dữ
liệu nguồn.
Khi chủ thể tự trải nghiệm, thông thường, một thực tại chủ
quan được tự chứng thực. Tuy nhiên, với cơ chế tự dối mình
hoặc hợp lý hoá, ai cũng có thể sai lầm, ngay cả việc nhìn
nhận về chính bản thân mình.
Sự xác minh tính chân thật của một thực tại chủ quan của
người khác hoàn toàn dựa trên niềm tin dành cho người đó. Vì
vậy, trước hết bạn phải kiểm tra độ thành thực của người đó,
càng kỹ càng tốt.
3. Khái niệm và khách thể của khái niệm
Mỗi khái niệm phản ánh một hay nhiều sự vật tồn tại độc lập
và riêng biệt với nhận thức của chúng ta. Khái niệm là sự phản
ánh chủ quan một thực tại khách quan. Do đó, những khái
niệm rõ ràng là những khái niệm phản ánh chân thực trật tự
khách quan từ nguyên bản của chúng. Ngược lại, những khái
niệm không rõ ràng lại tái hiện thế giới khách quan đã biến
dạng.
Sự thật là chúng ta không thể kiểm soát toàn bộ các khái niệm.
Điều này không có nghĩa là chúng ta bất lực trước những khái
niệm không rõ ràng. Để chắc chắn rằng các khái niệm luôn rõ
ràng, chúng ta phải cẩn trọng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa
khái niệm và khách thể của nó. Nếu mối quan hệ giữa khái
niệm và khách thể gượng ép, sợi dây liên kết chúng mỏng
manh thì đó là một khái niệm không rõ ràng.
Sẽ là ảo tưởng nếu chúng ta muốn hiểu thế giới chỉ thông qua
các khái niệm. Đó chỉ là những khái niệm của riêng chúng ta
mà thôi. Chúng chỉ là phương tiện, không phải đích đến của
nhận thức. Chúng kết nối ta với thế giới. Các khái niệm càng
rõ ràng thì “lực nối” càng mạnh. Cách hiệu quả nhất để chúng
ta làm rõ các khái niệm là nhìn xuyên suốt từ khái niệm tới các
khách thể tương ứng.
4. Hãy lưu tâm tới nguồn gốc của các khái niệm
Theo quy luật tự nhiên, chúng ta có khuynh hướng ưu ái
những khái niệm của bản thân mình. Dù thế nào, chúng cũng
là những đứa con, những quan điểm của chính chúng ta.
Nhưng những quan điểm chỉ khả dĩ với chủ thể tư duy khi tồn
tại sự tương tác giữa chủ thể này với thế giới. Rốt cuộc, các
khái niệm tồn tại được là nhờ các sự vật bên ngoài độc lập với
tâm trí, cái chúng ta gọi là thực tại khách quan.
Các khái niệm của chúng ta rất rõ ràng, và nhận thức của
chúng ta về chúng cũng vậy. Nhưng các khái niệm đó chỉ rõ
ràng khi chúng ta theo dõi được những sự vật mà chúng phản
ánh. Trọng tâm luôn phải hướng tới nguồn gốc của các khái
niệm trong thế giới khách quan. Chúng ta không thể hiểu thấu
đáo những khái niệm nếu cho rằng chúng không xuất phát từ
thực tại hay tồn tại cùng thực tại bên ngoài.
Chúng ta càng tách biệt các khái niệm khỏi nguồn gốc khách
quan thì độ tin cậy của chúng càng thấp. Sợi dây liên kết giữa
trật tự chủ quan và khách quan trở nên căng thẳng và nếu
chúng ta đẩy tình trạng này đi quá xa, sợi dây này sẽ đứt. Khi
đó, chúng ta đã tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan. Thay
vì nhìn thế giới như chính nó, chúng ta lại thấy một thế giới
phản chiếu, thế giới do tâm trí chúng ta tự sản sinh ra.
Khi bàn tới việc “xác minh một thực tại,” chúng ta thường xét
đến sự tồn tại của một khái niệm trong tâm trí. Như đã biết,
khái niệm trong tâm trí là một thực tại chủ quan còn thực tại
mà chúng ta đang muốn xác minh là thực tại khách quan. Để
làm được điều đó, chúng ta phải mở rộng tầm mắt, nhìn ra
nguồn gốc của các khái niệm trong thế giới khách quan. Với
một khái niệm cụ thể, tôi sẽ xác minh được thực tại khách
quan nếu tôi chắc chắn rằng có một thực tại bên ngoài tương
ứng với tâm trí của tôi. Ví dụ, trong tâm trí tôi có khái niệm
“con mèo”. Đối ứng với khái niệm đó là những sự vật gọi là
mèo trong thế giới bên ngoài. Nhưng tôi có thể có một khái
niệm khác do tôi tự đặt tên là “quái vật đầu người, mình
ngựa” và không tìm thấy một thực tại đối ứng nào ở thế giới
bên ngoài. Rốt cuộc, khái niệm “quái vật đầu người, mình
ngựa” là một thực tại chủ quan vì nó chỉ tồn tại như một khái
niệm trong tâm trí tôi.
5. Khớp khái niệm với thực tại
Có ba thành phần cơ bản tạo nên nhận thức con người: thứ
nhất, một thực tại khách quan (ví dụ: một con mèo); thứ hai,
khái niệm về con mèo; thứ ba, từ ngữ mà chúng ta gán vào
khái niệm, cái chúng ta dùng để giao tiếp với những người
khác (từ “con mèo”). Tất cả đều bắt đầu từ con mèo. Nếu
không có con mèo thực nào thì sẽ không có khái niệm nào về
chúng, và càng không có từ ngữ nào miêu tả khái niệm đó. Tôi
vẫn phải nhấn mạnh lại quan điểm tổng quát: các khái niệm
(những thực tại chủ quan) chỉ rõ ràng, hoàn thiện khi chúng
phản ánh các thực tại khách quan. Chúng ta vừa nói rằng tất cả
khái niệm đều bắt nguồn từ thế giới khách quan. Giờ đây,
chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng hơn mối liên hệ từ khái niệm
đến thế giới khách quan vì không phải lúc nào chúng cũng đơn
giản. Thêm nữa, chúng ta phải đối diện với câu hỏi: Tại sao lại
tồn tại những khái niệm huyền hoặc?
Đôi khi vẫn tồn tại mối tương quan trực tiếp giữa khái niệm và
thực tại khách quan. Ví dụ: khái niệm về con mèo. Chúng ta
gọi đây là một khái niệm “đơn giản”. Đối ứng với khái niệm
“con mèo” của tôi là một thực thể đơn lẻ cụ thể trong thế giới
bên ngoài – loài thú có lông kêu meo meo mà chúng ta gọi là
con mèo. Kiểm tra tính xác đáng của một khái niệm đơn giản
là chuyện khá dễ dàng vì chúng ta chỉ cần dựa vào một sự vật.
Khái niệm của tôi về con mèo rõ ràng và hoàn chỉnh nếu nó
tham chiếu đến con mèo thực trong thế giới.
Chúng ta sẽ đặt khái niệm “phức tạp” cho những sự vật không
tồn tại quan hệ một-đối-một giữa khái niệm và sự vật. Ở đó,
tồn tại một hay nhiều quan hệ đối ứng. Dạng khái niệm này có
nhiều hơn một nguồn gốc trong thế giới khách quan. Hãy xem
xét khái niệm “dân chủ”. Liệu nó có phải là một khái niệm rõ
ràng hay hoàn chỉnh không? Có chứ, ít nhất là ở dạng tiềm
năng. Khái niệm “dân chủ” rõ ràng, hoàn chỉnh khi chúng ta
có thể liên hệ nó với thế giới khách quan. Nhưng cần kết hợp
quá nhiều sự vật trong thế giới khách quan để tạo thành ý
nghĩa phong phú của khái niệm này: con người, sự kiện, hiến
pháp, luật định, những thể chế trong quá khứ và hiện tại. Nếu
tôi trao đổi với những người khác về khái niệm dân chủ, nó
còn liên quan tới những điểm chung giữa tôi và họ, hay chính
những sự vật sự việc là nguồn gốc của khái niệm dân chủ
trong thế giới khách quan. Để khái niệm của mình không sa
vào chủ nghĩa chủ quan đơn thuần và không thể chia sẻ với
những người khác, tôi phải duy trì mối liên kết với những thực
tại khách quan, nơi khái niệm được sinh ra.
Vậy thế nào là những khái niệm huyền hoặc (không rõ ràng và
hoàn chỉnh)? Một khái niệm không rõ ràng hay không hoàn
chỉnh khi chúng xa rời và không còn liên quan đến nguồn gốc
trong thế giới khách quan. Không có khái niệm nào, kể cả
những khái niệm kỳ lạ nhất, có thể hoàn toàn cắt đứt mối liên
hệ với thế giới khách quan. Nhưng có khái niệm xa cách với
thế giới đến mức sợi dây liên hệ rất khó thấy hoặc không thể
thấy được. Những khái niệm huyền hoặc có thể cung cấp
nhiều thông tin, không phải về thế giới khách quan mà về quan
điểm chủ quan của người sở hữu nó, vì chúng không phản ánh
thế giới một cách trung thực. Những khái niệm huyền hoặc
không tự nhiên mà có. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về
chúng. Bởi vì chúng sinh ra từ chính sự bất cẩn của chúng ta
khi không quan tâm đúng mức tới những đặc tính liên quan tới
khái niệm, hay tệ hơn, chúng là sản phẩm của hành động chủ
tâm khước từ thực tại khách quan của chúng ta.
6. Khớp ngôn từ với khái niệm
Như đã thấy, đầu tiên là sự vật, sau đó là khái niệm, và cuối
cùng là từ ngữ. Nếu những khái niệm của chúng ta phản ánh
chân thực sự vật, chúng cũng sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu
bộ trang phục ngôn từ chính xác. Điều kiện để một khái niệm
được mọi người thấu hiểu là chúng phải được diễn giải bằng
ngôn từ chính xác. Chọn từ ngữ đúng cho các khái niệm không
phải là quá trình vô thức mà đôi khi cũng đầy thử thách.
Không ít lần chúng ta rơi vào tình cảnh muốn nói nhưng
không tìm được từ để nói.
Làm thế nào để bảo đảm ngôn từ phù hợp với các khái niệm
cần truyền đạt? Chúng ta phải tìm hiểu nguồn gốc của các khái
niệm – giống với quá trình xác minh tính rõ ràng và hoàn
chỉnh của các khái niệm. Thông thường sẽ không thể tìm được
từ ngữ đúng cho một khái niệm nếu chúng ta không hiểu
tường tận khái niệm đó. Khi nào khái niệm được làm sáng tỏ
bằng cách tra cứu nguồn gốc trong thế giới khách quan, từ ngữ
đúng sẽ đến với chúng ta.
Đôi khi từ ngữ và khái niệm là một cặp đôi hoàn hảo. Theo đó,
sẽ có một hôn ước giữa từ ngữ và sự vật, vì nếu sự vật được
phản ánh chân thực trong khái niệm và từ ngữ biểu thị chính
xác khái niệm thì chắc chắn từ ngữ sẽ miêu tả sự vật kia một
cách trung thực. Điều này là dễ dàng với những khái niệm đơn
giản. Nếu tôi nói, “Tượng đài làm bằng đá hoa cương,” và
tượng đài mà tôi nói đến thực tế làm bằng đá hoa cương thì
trong từ “đá hoa cương” tôi đã kết hợp hoàn hảo khái niệm
với sự vật mà nó phản ánh. Nhưng mọi chuyện không còn dễ
dàng khi vấp phải những khái niệm phức tạp. Quy tắc chung
vẫn không thay đổi: để đảm bảo việc sử dụng ngôn từ chính
xác, hãy quay về với thực tại khách quan – yếu tố nền tảng để
giải nghĩa cho từ ngữ đó.
Khi nỗ lực sử dụng ngôn từ để diễn tả chính xác khái niệm,
mục tiêu trên hết của chúng ta là: sắp xếp từ ngữ sao cho
chúng truyền tải chính xác hiện thực khách quan đến người
nghe. Ngôn ngữ không những cần phù hợp với khái niệm mà
còn phải ăn khớp với những khái niệm rõ ràng và hoàn chỉnh.
Ví dụ tôi say sưa khẳng định sự tồn tại của Lilliput và cung
cấp đủ thứ khái niệm về nó. Tôi có thể tìm ra hàng tá từ ngữ
biểu đạt những khái niệm này cho bạn nhưng tất cả những gì
mớ từ ngữ này làm là thể hiện trí tưởng tượng của tôi chứ
không phải hiện thực của thế giới. Chúng thể hiện thực tại chủ
quan thay vì thực tại khách quan.
7. Giao tiếp hiệu quả
Ngôn ngữ và logic gắn bó bền chặt với nhau. Điều này sẽ sáng
rõ hơn khi chúng ta nhìn lại mối quan hệ giữa khái niệm và từ
ngữ. Dù đây vẫn là điểm khiến các chuyên gia còn tranh luận
nhưng có vẻ như ai cũng nhận ra mình có thể giữ một khái
niệm trong tâm trí mà không cần một từ ngữ chính xác cho nó.
Chỉ tới khi nào muốn truyền đạt khái niệm đến người khác,
chúng ta mới buộc phải sử dụng từ ngữ. Và như đã nhắc đến ở
trên, từ ngữ càng biểu đạt chính xác khái niệm thì hoạt động
giao tiếp càng rõ ràng và hiệu quả.
Khớp từ ngữ với khái niệm là bước đầu tiên và căn bản nhất
trong giao tiếp. Bước tiếp theo là sắp xếp các khái niệm lại với
nhau để tạo thành những phát biểu mạch lạc. Nếu tôi nói “con
chó” hoặc “con mèo,” bạn sẽ có tâm thế chờ đợi để nghe nội
dung tiếp theo. Bạn sẽ thắc mắc tôi muốn nói gì về chó hay
mèo. Qua lời nói của tôi, bạn biết rõ những khái niệm nhưng
không biết tôi định cung cấp thông tin gì về chúng. Tôi chỉ
mới đơn thuần nhắc đến các khái niệm mà chưa nói gì về
chúng. Các khái niệm mang nội dung khi chúng được sắp xếp
thành phát biểu và có thể tạo nên phản ứng đồng tình hay phản
đối từ người nghe. Hãy để ý xem! Nếu ai đó chỉ đơn thuần nói
từ “mèo,” sẽ không có nhiều nội dung để phản hồi lại “Đúng
rồi” hay “Sai rồi.” Nhưng nếu ai đó nói “Con mèo đang ở
trong nhà xe” thì những phản hồi như trên là thích hợp. Phát
biểu mà ta vừa nhắc đến có một ý nghĩa đặc biệt trong logic.
Nó là một biểu thức ngôn ngữ chấp nhận phản hồi “đúng”
hoặc “sai.”
Từ ngữ được xem là những viên gạch nền tảng xây dựng nên
ngôn ngữ, còn logic lại bắt đầu từ mệnh đề. Bởi vì chỉ với
mệnh đề mới đặt ra câu hỏi về tính đúng sai và logic sẽ xác
định cái gì đúng và phân biệt nó với cái sai. Đôi khi để xác
định tính đúng sai của một mệnh đề, ngay cả những mệnh đề
rõ ràng cũng là việc khó khăn. Nhưng nếu chúng ta gặp khó
khăn trong việc hiểu nội dung của mệnh đề thì khó khăn sẽ
càng chồng chất hơn. Bởi vì trước hết chúng ta phải tìm ra ý
nghĩa của mệnh đề rồi chuyển sang bước quan trọng là xác
định tính đúng sai của nó. Do đó, giao tiếp rõ ràng, hiệu quả là
rất quan trọng.
Hiệu quả giao tiếp sẽ không tốt nếu thiếu đi tư duy rành mạch.
Tôi khó lòng giải thích minh bạch một khái niệm cho bạn nếu
tôi chỉ hiểu lờ mờ về nó. Thế nhưng nắm rõ các khái niệm vẫn
không bảo đảm cho một phát ngôn rành mạch. Hiểu rất rõ
những khái niệm đang muốn nói đến vẫn không đạt được
thành công trong giao tiếp nếu bạn không biết cách truyền đạt
chúng rõ ràng.
Dưới đây là một vài nguyên tắc cơ bản hoạt động giao tiếp đạt
hiệu quả:
Đừng mặc định rằng người nghe hiểu ý bạn nếu bạn không
nói rõ ràng
Với những chủ đề càng phức tạp thì nguyên tắc này càng trở
nên quan trọng. Đôi khi chúng ta cứ đinh ninh rằng người
nghe đã có những thông tin nền tảng cần thiết để hiểu đúng
chủ đề mà mình đang nói, nhưng thực tế, người đó có thể vẫn
còn lạ lẫm với thông tin ấy. Nếu họ còn hoài nghi, hãy giải
thích rõ những thông tin nền tảng. Nói quá nhiều vẫn tốt hơn
là nói quá ít.
Sử dụng những câu hoàn chỉnh
Loại câu mà logic quan tâm nhiều nhất là câu trần thuật. Một
câu trần thuật giống như một phát ngôn (còn được gọi là
“mệnh đề” trong logic). Nếu tôi nói “Chó rùa,” “Sự rớt giá
của chứng khoán trong tháng Bảy,” “Mặt tiền tòa nhà đá vôi
Indiana,” bạn có thể đoán rằng tôi định kết hợp vài khái niệm
nào đó lại với nhau nhưng không biết tôi làm bằng cách nào.
Bởi vì tôi chưa xây dựng được những phát biểu trọn vẹn. Tôi
cần phải nói những câu hoàn chỉnh như: “Con chó cắn con
rùa,” “Chứng khoán rớt giá trong tháng Bảy khiến Julian
phiền muộn,” “Mặt tiền công trình đá vôi Indiana bị huỷ hoại
bởi những kẻ ngu dốt chuyên phá hoại các công trình văn
hoá.”
Đừng xem những phát biểu đánh giá như những phát biểu về
thực tại khách quan
“Toà nhà Pearce nằm ở góc đường Main và Adams” là một
phát biểu về thực tại khách quan. Những phát biểu kiểu này
không đúng thì sai. “Toà nhà Pearce xấu xí” là một phát biểu
đánh giá. Những phát biểu kiểu này kết hợp cả yếu tố khách
quan và chủ quan. Những phát biểu đánh giá không tạo ra các
phản hồi đúng/ sai đơn thuần. Chúng ta không nên đưa ra
những phản hồi vô căn cứ. Nhưng chúng ta lại thường coi một
phát biểu đánh giá như một phát biểu về thực tại khách quan.
Những phát biểu đúng với thực tại khách quan không thể đem
ra tranh luận nhưng những phát biểu đánh giá thì có thể. Để
mọi người chấp nhận một phát biểu đánh giá của mình, tôi
phải biện hộ cho nó.
Tránh phủ định kép
Trong tiếng Tây Ban Nha, các phủ định kép có tác dụng nhấn
mạnh tính phủ định trong câu. Trong tiếng Anh, phủ định kép
huỷ bỏ tính phủ định và biến câu trở thành khẳng định (trong
tiếng Việt cũng vậy). Hiện tượng này đôi khi khiến ta bối rối,
vì câu có hình thức phủ định nhưng thực ra lại là câu khẳng
định. Để tránh lối diễn đạt rối rắm và mập mờ đó, không nên
sử dụng lối phủ định kép. Thay vì nói: “Không chắc là cô ấy
sẽ không được chào đón,” hãy nói: “Cô ấy sẽ được chào
đón.”
Hãy sử dụng ngôn ngữ phù hợp với người nghe
Nếu bạn là một nhà vật lý học đang thảo luận về nguyên lý bất
định với đồng nghiệp trong một hội thảo chuyên ngành, bạn có
thể tự do sử dụng những thuật ngữ chuyên ngành. Nhưng nếu
được yêu cầu giải thích nguyên lý này cho một nhóm không
phải các nhà vật lý, bạn nên lựa chọn ngôn từ và cách trình
bày dễ hiểu nhất có thể. Đừng sử dụng những biệt ngữ chỉ để
gây ấn tượng với mọi người. Mục tiêu của bạn là giao tiếp. Hai
thái cực chúng ta cần tránh là nói giọng kẻ cả hay giọng hiểu
biết với người khác.
Một điểm quan trọng cần lưu ý là ngôn ngữ của chúng ta chỉ
phù hợp với người nghe khi chúng ta thực sự hiểu họ. Do đó,
việc đầu tiên bạn phải làm là tìm hiểu về tư chất, lai lịch của
đối tượng mà bạn cần nói chuyện càng nhiều càng tốt.
8. Tránh sử dụng ngôn ngữ mơ hồ, tối nghĩa
Ngôn ngữ mơ hồ và tối nghĩa hạn chế sự rõ ràng và hiệu quả
trong giao tiếp. Từ “mơ hồ” (vague) trong tiếng Anh xuất phát
từ tính từ vagus trong tiếng Latin nghĩa là “lan man”; từ “tối
nghĩa” (ambiguous) trong tiếng Anh có nguồn gốc từ
amgibere trong tiếng Latin có nghĩa là “đi lang thang.” Nghĩa
là những từ ngữ và cách diễn đạt mơ hồ, tối nghĩa đi lang
thang khắp các khái niệm khác nhau thay vì ghé lại một khái
niệm cụ thể nào đó. Nhược điểm chung của chúng là không
chứa đựng một nghĩa cụ thể, cố định nào và dễ gây nhầm lẫn.
Một từ ngữ mơ hồ khi nó không quy chiếu rõ ràng. Chúng ta
không biết chính xác nội dung từ đó muốn truyền tải. Hãy xem
hai phát biểu sau: “Người ta không thích thể loại nhạc này” và
“Họ nói ông ấy sẽ không tham gia tranh cử lần hai.” Phản
ứng tự nhiên với phát biểu thứ nhất sẽ là: “Người ta là ai và
thể loại nhạc nào?” Phản ứng với phát biểu thứ hai sẽ là: “Họ
là ai?” Trong cả hai ví dụ, chúng ta không chắc chắn về nội
dung của thông điệp vì không có thông tin chính xác. Thay
vào đó, hãy phát biểu thế này: “Những người từng được đào
tạo ở Nhạc viện San Francisco không thích thể loại âm nhạc
dân gian West Cork” hay “Ứng viên từ Ủy ban tuyển chọn của
Đảng Dân chủ tuyên bố rằng ông sẽ không tham gia tranh cử
nữa.” Khi đó, chúng ta sẽ có ý kiến phản hồi rõ ràng hơn.
Từ ngữ càng chung chung thì ý nghĩa càng mơ hồ. Một giải
pháp chắc chắn để tránh sự mơ hồ là chọn lựa ngôn từ chính
xác và chi tiết nhất có thể. Độc giả hay thính giả của bạn sẽ
không phải đoán già đoán non xem bạn đang nói gì. Nếu bạn
muốn nói đến ghế đu, ghế cổ, ghế nha sĩ hay ghế điện thì hãy
sử dụng đúng những từ đó thay vì từ “ghế” chung chung.
Thông thường dựa vào ngữ cảnh, người nghe có thể đoán ra
vật quy chiếu của những từ ngữ chung chung, nhưng để có quy
chiếu chính xác hãy sử dụng những từ cụ thể.
Những từ như “tình yêu,” “dân chủ,” “công bằng,” “bình
đẳng,” “cái tốt,” “cái xấu” mơ hồ không phải vì chúng không
có nghĩa cụ thể mà vì chúng quá giàu sắc thái ý nghĩa. Do đó,
hai người cùng sử dụng một từ, ví dụ “tình yêu”, nhưng có thể
hiểu nó theo những cách khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Đó là lý do tại sao khi sử dụng những từ ngữ kiểu này, bạn bắt
buộc phải thể hiện rõ sắc thái ý nghĩa mình muốn nói. Trước
khi cố gắng thuyết phục người nghe về sự bất công trong một
tình huống nào đó, bạn cần phải đưa ra quan điểm rõ ràng về
công bằng.
Một từ tối nghĩa (“lập lờ”, theo ngôn ngữ logic) là từ có nhiều
hơn một nghĩa và ngữ cảnh không giúp làm rõ nét nghĩa chính
xác mà người nói muốn truyền đạt. Một biển báo hiệu đặt tại
ngã rẽ ghi “BEAR TO THE RIGHT”, có thể được hiểu theo
hai nghĩa khác nhau. Có thể là chỉ dẫn người đi đường nên rẽ
phải chứ không rẽ trái. Nhưng cũng có thể người bảo vệ rừng
viết tấm biển để cảnh báo người đi đường không nên rẽ phải vì
có một con gấu xám trong khu vực mà con đường này chạy
qua. Có thể thấy, ngôn ngữ của viên bảo vệ rất bất cẩn, dễ
khiến người đọc hiểu sai nghĩa và dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng. Cách duy nhất để tránh sự tối nghĩa là viết rõ
ràng nhất...
Lời giới thiệu
Lời tựa
I.Nền tảng cho tư duy logic
II.Những quy tắc logic cơ bản
III.Lập luận:Ngôn ngữ của logic
IV.Nguồn gốccủa tư duy phi logic
V.Những dạng tư duyphi logic chính
Lời cuối sách
Lời giới thiệu
(Cho bản tiếng Việt)
Bạn đọc thân mến!
Triết gia, nhà khoa học người Pháp Rene Descartes đã từng
nói: “Có trí óc tốt vẫn chưa đủ, quan trọng là phải sử dụng tốt
nó.” Thật vậy! Những thao tác so sánh, phân tích, liên tưởng,
phán đoán, suy luận,… vốn bẩm sinh trong não bộ của tất cả
mọi người nhưng không phải ai cũng vận hành chúng một
cách hoàn hảo. Chúng sẽ trở thành công cụ đắc lực cho công
việc và cuộc sống của bạn nếu được bồi dưỡng và phát triển
đúng hướng. Rèn luyện và nâng cao các kỹ năng tư duy không
dễ dàng nhưng không phải là không thể.
Trong cuốn Tư duy logic, bạn sẽ có được những nền tảng thiết
yếu để hiểu và vận dụng các quy tắc tư duy logic như một lợi
thế trong cuộc sống hàng ngày.
Tư duy logic khác với bất kỳ cuốn giáo trình logic học nào bạn
từng đọc, tính logic của nó thể hiện ngay từ cấu trúc nội dung
chặt chẽ và ở cách trình bày ngắn gọn, rõ ràng. Bạn sẽ gặp lại
những kiến thức logic cơ bản như khái niệm, mệnh đề, lập
luận, ngụy biện,… nhưng bằng lối dẫn dắt mạch lạc và giản dị.
Mỗi vấn đề logic được cụ thể hóa nhờ những phân tích thấu
đáo, những ví dụ thiết thực và những bình luận sâu sắc từ trải
nghiệm và hiểu biết của nhà triết học McInerny.
Dưới sự dẫn lối của logic, bạn sẽ biết cách đưa ra những kết
luận đúng đắn và xây dựng những lập luận chặt chẽ thuyết
phục người nghe. Thú vị hơn, bạn sẽ có thêm cái nhìn mới, từ
cấu trúc lý thuyết cho tới tình huống thực tiễn của các bẫy
ngụy biện thường mắc phải mà không hay biết.
Logic không đơn thuần là những khái niệm và công thức khô
khan, nó thật sự là một nghệ thuật. Hãy để McInerny đưa bạn
vào thế giới logic đầy kỳ thú và bất ngờ ấy!
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH ALPHA
Hà Nội, tháng 2 năm 2013
Lời tựa
Logic là lối tư duy rành mạch và hiệu quả. Nó vừa là khoa học
vừa là nghệ thuật. Mục tiêu của cuốn sách này là giới thiệu
những nguyên tắc cũng như những kỹ năng cơ bản liên quan
đến khoa học – nghệ thuật logic.
Chúng ta đều biết những người thông minh không phải lúc nào
cũng toả sáng nếu thiếu tư duy logic. Họ có khả năng tư duy
rành mạch và hiệu quả nhưng khả năng đó không biểu hiện
đều đặn. Rất có thể họ chưa từng được bồi dưỡng khả năng tư
duy logic một cách đúng đắn do lỗ hổng trong hệ thống giáo
dục. Thực chất, logic là xương sống của nền giáo dục chân
chính nhưng nó lại hiếm khi được giảng dạy trong nhà trường
Hoa Kỳ. Theo cá nhân tôi, logic chính là mảnh ghép còn thiếu
trong hệ thống giáo dục, là môn học nền tảng cho những môn
học khác, từ Anh văn đến Lịch sử, Khoa học hay Toán học.
Khi đọc cuốn sách này, vài độc giả, đặc biệt là những người
lần đầu tìm hiểu về logic, có thể sẽ có cảm giác ngao ngán khi
nhìn thấy những từ ngữ chuyên ngành hay những ký hiệu
thường được sử dụng trong logic. Đừng bỏ cuộc bởi những ấn
tượng ban đầu đó. Tôi đã nỗ lực trình bày những nội dung khô
cứng một cách đơn giản và dễ hiểu nhất. Tuy nhiên, tôi cũng
tránh sa vào sự giản dị thái quá. Một thứ logic đơn giản quá
mức không còn là một logic nữa. Vài bạn đọc khác sẽ bỏ qua
những điều tưởng như hiển nhiên được nhấn mạnh. Đúng là
trong cuốn sách này, tôi có chủ ý đề cao việc nhấn mạnh
những điều hiển nhiên. Trong logic cũng như trong cuộc sống,
cái hiển nhiên mới là cái cần được nhấn mạnh vì chúng thường
bị bỏ qua. Nếu tôi nhấn mạnh những điều đã quá rõ ràng và
thường chọn những quan điểm rành mạch thay vì những quan
điểm ngầm ẩn, đó là vì tôi trung thành với quy tắc sư phạm lâu
đời rằng giả định càng ít càng an toàn.
Nhìn tổng thể, logic là một lĩnh vực sâu rộng và đa dạng đến
tuyệt vời. Tôi sẽ rất mãn nguyện nếu các độc giả của mình sau
khi đọc xong cuốn sách nhỏ này không còn cảm giác xa lạ với
logic nữa. Còn mục tiêu trực tiếp của tôi lại rất khiêm tốn. Tuy
cuốn sách không phải là một chuyên luận về lý thuyết logic
học, cũng không phải là một cuốn giáo trình về logic nhưng tôi
vẫn không thôi hy vọng nó được đón nhận trong các lớp học.
Mục tiêu chủ yếu của tôi là viết một cuốn cẩm nang thực hành,
trình bày những nguyên tắc cơ bản phù hợp với những người
lần đầu tìm hiểu về logic. Tư duy logic hướng đến mục tiêu
sinh ra những thực hành gia chứ không phải những lý thuyết
gia – những người không chỉ hiểu mà còn vận dụng được các
quy tắc logic.
Để đạt được kết quả thực tiễn tối đa cho cuốn sách, tôi sử dụng
lối văn phong giản dị, thường đối thoại trực tiếp với độc giả,
đôi khi là giọng điệu chỉ thị rõ ràng khi cần hướng dẫn, nhấn
mạnh. Tôi chia logic thành năm giai đoạn, được trình bày
thành năm phần, giai đoạn sau được xây dựng dựa trên giai
đoạn trước. Phần Một mang tính chuẩn bị và đưa ra cấu trúc tư
duy đúng đắn – nền tảng không thể thiếu để thực hành tư duy
logic. Trong phần Hai và Ba, phần trọng tâm của cuốn sách,
chúng ta sẽ đi sâu vào lãnh địa của logic học. Phần Hai giải
thích những chân lý nền tảng chi phối tư duy logic, phần Ba
tập trung vào lập luận – biểu hiện rõ ràng nhất của tư duy
logic. Trong phần Bốn, tôi bàn đến thái độ và cấu trúc trí tuệ
hình thành lối tư duy phi logic. Cuối cùng, phần Năm tập
trung vào những dạng đặc biệt của tư duy phi logic – các ngụy
biện.
Lời cuối cùng, tôi muốn bày tỏ sự ngưỡng mộ và đánh giá cao
với cuốn sách rất sắc sảo The Elements of Style (Tạm dịch:
Các yếu tố của văn phong) của hai tác giả William Strunk, Jr.
và E. B. White. Cuốn sách đã gợi nguồn cảm hứng cho Tư duy
logic. Những gì tôi cố gắng đạt được trong cuốn sách này
không thể sánh được với thành tựu độc nhất vô nhị của Strunk
và White, nhưng tôi hy vọng Tư duy logic thành công trong
chủ đề tư duy ở một mức độ nào đó như thành công mà Các
yếu tố của văn phong đã đạt được trên lĩnh vực sáng tác. Ước
muốn tha thiết nhất của tôi là cuốn sách này thuyết phục thành
công các độc giả về tầm quan trọng của logic trong thực tiễn.
Hy vọng cuốn sách này sẽ giúp độc giả nhận thức đúng về sự
đồng hành của cảm giác hạnh phúc và tư duy logic.
– D. Q. MCINERNY –
I.Nền tảng cho tư duy logic
Logic và ngôn ngữ là hai phạm trù không thể tách rời, bởi thế
trong tư duy logic bao hàm cả sự nhanh nhạy và khéo léo
trong sử dụng ngôn ngữ. Logic phản ánh thực tại nên nó tôn
trọng chân lý bền vững của thế giới mà chúng ta đang sống.
Thêm nữa, nó còn phản ánh chân lý nên bao hàm cả những
nhận thức sống động trong tâm trí chúng ta về cách tạo ra ý
tưởng từ những khách thể trong thế giới. Phần đầu tiên này,
tôi dành để thảo luận về những thái độ, quan điểm và các
phương pháp thực tiễn. Đó sẽ là những nền tảng cần thiết để
chúng ta bước vào thế giới logic.
1. Lưu tâm
Một trong những nguyên nhân khiến chúng ta hay phạm sai
lầm trong lý luận là do không dành đủ quan tâm cho các tình
huống mình gặp phải. Điều này lại càng đúng với những tình
huống quen thuộc. Sự quen thuộc chính là nguyên nhân khiến
chúng ta bất cẩn khi đánh giá. Chúng ta hiểu sai tình huống vì
chúng ta chỉ nhìn lướt qua, trong khi đáng ra phải xem xét
chúng kỹ càng. Thông thường, chúng ta cho rằng một tình
huống quen thuộc là sự lặp lại của một tình huống tương tự
chúng ta từng trải nghiệm. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận khắt khe
hơn, sẽ không bao giờ có những tình huống lặp lại. Mỗi tình
huống đều độc nhất vô nhị và chúng ta cần phải thừa nhận tính
chất này.
Cụm từ “lưu tâm” nói lên nhiều điều. Nó nhắc chúng ta rằng
sự lưu tâm nào cũng có cái giá của nó. Lưu tâm đòi hỏi phản
ứng chủ động và nhanh nhạy trước mọi đối tượng, ở mọi nơi,
trong mọi tình huống. Không thể cùng lúc vừa hoàn toàn lưu
tâm vừa thụ động. Đừng chỉ nhìn, hãy quan sát. Đừng chỉ
nghe, hãy lắng nghe. Hãy luyện tập để bạn tập trung hơn vào
các chi tiết. Đừng bỏ qua những điều nhỏ bé vì chính chúng sẽ
dẫn ta đến với những điều lớn hơn.
2. Nhìn thẳng vào thực tại
Thực tại là những gì hiện đang tồn tại thực tế xung quanh
chúng ta. Nó tồn tại khách quan và độc lập trong cách nhìn
nhận của chúng ta.
Có hai loại thực tại khách quan cơ bản là sự vật và sự kiện. Sự
vật là một thực thể tồn tại như động vật, rau quả hay khoáng
sản. Còn sự kiện là sự việc có ý nghĩa ít nhiều quan trọng đã
xảy ra. Nhà Trắng là một ví dụ của loại thực tại thứ nhất, và vụ
mưu sát tổng thống Abraham Lincoln là loại thứ hai. Loại thứ
nhất căn bản hơn loại thứ hai vì sự kiện được tạo thành từ các
sự vật hay hành động của các sự vật. Ví dụ một buổi ăn tối
trọng thể được tổ chức tại Nhà Trắng. Sự kiện này không thể
xảy ra nếu không có sự tồn tại của thực tại đầu tiên và trước
nhất là Nhà Trắng, cùng vô số những thực tại khác nữa. Để có
thể xác minh tính chân thực của một sự kiện, cần quan tâm tới
vô số những sự vật cụ thể khác.
Để xác định liệu thực tại có phải là một sự vật hay không, tất
cả những gì bạn cần làm là đến viếng thăm nó. Nếu nó thực sự
tồn tại, nó phải ở đâu đó. Hãy giả định bạn có thể đến được
đúng địa điểm, có thể xác minh tính chân thực của nó bằng
cách quan sát. Ví dụ như trong trường hợp của Nhà Trắng. Để
xác minh đó là một thực tại chứ không đơn thuần là một ảo
tưởng, bạn hãy đến thăm thành phố Washington và ở đó bạn
có thể tận mắt thấy Nhà Trắng. Đó chính là cách trực tiếp và
tin cậy nhất để khẳng định tính chân thực. Nhưng bạn cũng có
thể tin tưởng những chứng cứ gián tiếp. Ví dụ, lời nói của
những nhân chứng đáng tin cậy hay một bức ảnh chụp cũng đủ
để xác minh Nhà Trắng thực sự ở Washington.
Nhưng còn sự kiện mưu sát Tổng thống Lincoln thì sao?
Chúng ta nói đó là một thực tại. Nhưng bằng chứng nào đảm
bảo cho tuyên bố đó? Sự kiện này đã kết thúc và không còn
nhân chứng sống nào để chứng thực. Hiển nhiên là chúng ta
không chứng kiến sự kiện này, do đó không cần phải bàn đến
chứng cứ trực tiếp. Trong trường hợp này, chúng ta sẽ tiếp cận
qua những sự vật đóng vai trò là chứng cứ gián tiếp. Ví dụ,
chúng ta có thể tham khảo những tài liệu tin cậy (báo cáo của
cảnh sát, giấy chứng tử, v.v..), bài tường thuật trên báo, hình
ảnh, hồi ký, nhật ký, và những tài liệu khác trong Hồ sơ Quốc
hội. Tất cả những tài liệu đó đều đáng tin cậy và có những lý
giải hợp lý cho tính xác thực của vụ mưu sát Lincoln. Dựa trên
tính chân thực của những sự vật này, chúng ta xác minh được
tính hiện thực của sự kiện. Và từ đó, một sự thực lịch sử cũng
dễ dàng được xác nhận.
Một thực tại có thể được nhìn nhận theo hướng khách quan
hay chủ quan. Cả sự vật và sự kiện đều là những thực tại
khách quan. Chúng tồn tại công khai và được tất cả mọi người
tiếp cận. Còn thực tại chủ quan chỉ giới hạn trong bản thân chủ
thể trải nghiệm chúng. Cơn đau đầu là một ví dụ về thực tại
chủ quan. Nếu tôi đang bị đau đầu thì tôi có bằng chứng trực
tiếp về tính chân thực của nó. Nhưng nếu bạn đang bị đau đầu,
tôi chỉ có thể xác minh nó qua những bằng chứng gián tiếp.
Việc xác minh những thực tại chủ quan hoàn toàn dựa trên
niềm tin vào lời nói của người đang trải nghiệm.
Cách nhìn nhận thực tại của chúng ta được tổng kết lại như
sau: Nếu một thực tại là sự vật có thể tiếp cận được thì cách
chắc chắn nhất để xác minh tính chân thực là xem xét sự tồn
tại của nó. Chúng ta sẽ thu được bằng chứng trực tiếp về sự
vật đó. Nếu không tìm được bằng chứng trực tiếp, chúng ta
phải kiểm tra chặt chẽ tính xác thực và đáng tin cậy của bất kỳ
bằng chứng gián tiếp nào. Dựa trên nền tảng đó, chúng ta mới
có kết luận chắc chắn về tính chân thực của sự vật.
Chúng ta rất ít khi được trải nghiệm những sự kiện công khai
quan trọng. Có nghĩa là trong hầu hết các trường hợp, chúng ta
phải dựa vào các bằng chứng gián tiếp. Khi xác minh tính
chân thực của các sự kiện thông qua bằng chứng gián tiếp,
chúng ta phải xem xét chúng kỹ càng như khi xác minh tính
chân thực của các sự vật thông qua bằng chứng gián tiếp. Tất
cả đều phụ thuộc vào tính chất xác thực và đáng tin cậy của dữ
liệu nguồn.
Khi chủ thể tự trải nghiệm, thông thường, một thực tại chủ
quan được tự chứng thực. Tuy nhiên, với cơ chế tự dối mình
hoặc hợp lý hoá, ai cũng có thể sai lầm, ngay cả việc nhìn
nhận về chính bản thân mình.
Sự xác minh tính chân thật của một thực tại chủ quan của
người khác hoàn toàn dựa trên niềm tin dành cho người đó. Vì
vậy, trước hết bạn phải kiểm tra độ thành thực của người đó,
càng kỹ càng tốt.
3. Khái niệm và khách thể của khái niệm
Mỗi khái niệm phản ánh một hay nhiều sự vật tồn tại độc lập
và riêng biệt với nhận thức của chúng ta. Khái niệm là sự phản
ánh chủ quan một thực tại khách quan. Do đó, những khái
niệm rõ ràng là những khái niệm phản ánh chân thực trật tự
khách quan từ nguyên bản của chúng. Ngược lại, những khái
niệm không rõ ràng lại tái hiện thế giới khách quan đã biến
dạng.
Sự thật là chúng ta không thể kiểm soát toàn bộ các khái niệm.
Điều này không có nghĩa là chúng ta bất lực trước những khái
niệm không rõ ràng. Để chắc chắn rằng các khái niệm luôn rõ
ràng, chúng ta phải cẩn trọng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa
khái niệm và khách thể của nó. Nếu mối quan hệ giữa khái
niệm và khách thể gượng ép, sợi dây liên kết chúng mỏng
manh thì đó là một khái niệm không rõ ràng.
Sẽ là ảo tưởng nếu chúng ta muốn hiểu thế giới chỉ thông qua
các khái niệm. Đó chỉ là những khái niệm của riêng chúng ta
mà thôi. Chúng chỉ là phương tiện, không phải đích đến của
nhận thức. Chúng kết nối ta với thế giới. Các khái niệm càng
rõ ràng thì “lực nối” càng mạnh. Cách hiệu quả nhất để chúng
ta làm rõ các khái niệm là nhìn xuyên suốt từ khái niệm tới các
khách thể tương ứng.
4. Hãy lưu tâm tới nguồn gốc của các khái niệm
Theo quy luật tự nhiên, chúng ta có khuynh hướng ưu ái
những khái niệm của bản thân mình. Dù thế nào, chúng cũng
là những đứa con, những quan điểm của chính chúng ta.
Nhưng những quan điểm chỉ khả dĩ với chủ thể tư duy khi tồn
tại sự tương tác giữa chủ thể này với thế giới. Rốt cuộc, các
khái niệm tồn tại được là nhờ các sự vật bên ngoài độc lập với
tâm trí, cái chúng ta gọi là thực tại khách quan.
Các khái niệm của chúng ta rất rõ ràng, và nhận thức của
chúng ta về chúng cũng vậy. Nhưng các khái niệm đó chỉ rõ
ràng khi chúng ta theo dõi được những sự vật mà chúng phản
ánh. Trọng tâm luôn phải hướng tới nguồn gốc của các khái
niệm trong thế giới khách quan. Chúng ta không thể hiểu thấu
đáo những khái niệm nếu cho rằng chúng không xuất phát từ
thực tại hay tồn tại cùng thực tại bên ngoài.
Chúng ta càng tách biệt các khái niệm khỏi nguồn gốc khách
quan thì độ tin cậy của chúng càng thấp. Sợi dây liên kết giữa
trật tự chủ quan và khách quan trở nên căng thẳng và nếu
chúng ta đẩy tình trạng này đi quá xa, sợi dây này sẽ đứt. Khi
đó, chúng ta đã tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan. Thay
vì nhìn thế giới như chính nó, chúng ta lại thấy một thế giới
phản chiếu, thế giới do tâm trí chúng ta tự sản sinh ra.
Khi bàn tới việc “xác minh một thực tại,” chúng ta thường xét
đến sự tồn tại của một khái niệm trong tâm trí. Như đã biết,
khái niệm trong tâm trí là một thực tại chủ quan còn thực tại
mà chúng ta đang muốn xác minh là thực tại khách quan. Để
làm được điều đó, chúng ta phải mở rộng tầm mắt, nhìn ra
nguồn gốc của các khái niệm trong thế giới khách quan. Với
một khái niệm cụ thể, tôi sẽ xác minh được thực tại khách
quan nếu tôi chắc chắn rằng có một thực tại bên ngoài tương
ứng với tâm trí của tôi. Ví dụ, trong tâm trí tôi có khái niệm
“con mèo”. Đối ứng với khái niệm đó là những sự vật gọi là
mèo trong thế giới bên ngoài. Nhưng tôi có thể có một khái
niệm khác do tôi tự đặt tên là “quái vật đầu người, mình
ngựa” và không tìm thấy một thực tại đối ứng nào ở thế giới
bên ngoài. Rốt cuộc, khái niệm “quái vật đầu người, mình
ngựa” là một thực tại chủ quan vì nó chỉ tồn tại như một khái
niệm trong tâm trí tôi.
5. Khớp khái niệm với thực tại
Có ba thành phần cơ bản tạo nên nhận thức con người: thứ
nhất, một thực tại khách quan (ví dụ: một con mèo); thứ hai,
khái niệm về con mèo; thứ ba, từ ngữ mà chúng ta gán vào
khái niệm, cái chúng ta dùng để giao tiếp với những người
khác (từ “con mèo”). Tất cả đều bắt đầu từ con mèo. Nếu
không có con mèo thực nào thì sẽ không có khái niệm nào về
chúng, và càng không có từ ngữ nào miêu tả khái niệm đó. Tôi
vẫn phải nhấn mạnh lại quan điểm tổng quát: các khái niệm
(những thực tại chủ quan) chỉ rõ ràng, hoàn thiện khi chúng
phản ánh các thực tại khách quan. Chúng ta vừa nói rằng tất cả
khái niệm đều bắt nguồn từ thế giới khách quan. Giờ đây,
chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng hơn mối liên hệ từ khái niệm
đến thế giới khách quan vì không phải lúc nào chúng cũng đơn
giản. Thêm nữa, chúng ta phải đối diện với câu hỏi: Tại sao lại
tồn tại những khái niệm huyền hoặc?
Đôi khi vẫn tồn tại mối tương quan trực tiếp giữa khái niệm và
thực tại khách quan. Ví dụ: khái niệm về con mèo. Chúng ta
gọi đây là một khái niệm “đơn giản”. Đối ứng với khái niệm
“con mèo” của tôi là một thực thể đơn lẻ cụ thể trong thế giới
bên ngoài – loài thú có lông kêu meo meo mà chúng ta gọi là
con mèo. Kiểm tra tính xác đáng của một khái niệm đơn giản
là chuyện khá dễ dàng vì chúng ta chỉ cần dựa vào một sự vật.
Khái niệm của tôi về con mèo rõ ràng và hoàn chỉnh nếu nó
tham chiếu đến con mèo thực trong thế giới.
Chúng ta sẽ đặt khái niệm “phức tạp” cho những sự vật không
tồn tại quan hệ một-đối-một giữa khái niệm và sự vật. Ở đó,
tồn tại một hay nhiều quan hệ đối ứng. Dạng khái niệm này có
nhiều hơn một nguồn gốc trong thế giới khách quan. Hãy xem
xét khái niệm “dân chủ”. Liệu nó có phải là một khái niệm rõ
ràng hay hoàn chỉnh không? Có chứ, ít nhất là ở dạng tiềm
năng. Khái niệm “dân chủ” rõ ràng, hoàn chỉnh khi chúng ta
có thể liên hệ nó với thế giới khách quan. Nhưng cần kết hợp
quá nhiều sự vật trong thế giới khách quan để tạo thành ý
nghĩa phong phú của khái niệm này: con người, sự kiện, hiến
pháp, luật định, những thể chế trong quá khứ và hiện tại. Nếu
tôi trao đổi với những người khác về khái niệm dân chủ, nó
còn liên quan tới những điểm chung giữa tôi và họ, hay chính
những sự vật sự việc là nguồn gốc của khái niệm dân chủ
trong thế giới khách quan. Để khái niệm của mình không sa
vào chủ nghĩa chủ quan đơn thuần và không thể chia sẻ với
những người khác, tôi phải duy trì mối liên kết với những thực
tại khách quan, nơi khái niệm được sinh ra.
Vậy thế nào là những khái niệm huyền hoặc (không rõ ràng và
hoàn chỉnh)? Một khái niệm không rõ ràng hay không hoàn
chỉnh khi chúng xa rời và không còn liên quan đến nguồn gốc
trong thế giới khách quan. Không có khái niệm nào, kể cả
những khái niệm kỳ lạ nhất, có thể hoàn toàn cắt đứt mối liên
hệ với thế giới khách quan. Nhưng có khái niệm xa cách với
thế giới đến mức sợi dây liên hệ rất khó thấy hoặc không thể
thấy được. Những khái niệm huyền hoặc có thể cung cấp
nhiều thông tin, không phải về thế giới khách quan mà về quan
điểm chủ quan của người sở hữu nó, vì chúng không phản ánh
thế giới một cách trung thực. Những khái niệm huyền hoặc
không tự nhiên mà có. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về
chúng. Bởi vì chúng sinh ra từ chính sự bất cẩn của chúng ta
khi không quan tâm đúng mức tới những đặc tính liên quan tới
khái niệm, hay tệ hơn, chúng là sản phẩm của hành động chủ
tâm khước từ thực tại khách quan của chúng ta.
6. Khớp ngôn từ với khái niệm
Như đã thấy, đầu tiên là sự vật, sau đó là khái niệm, và cuối
cùng là từ ngữ. Nếu những khái niệm của chúng ta phản ánh
chân thực sự vật, chúng cũng sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu
bộ trang phục ngôn từ chính xác. Điều kiện để một khái niệm
được mọi người thấu hiểu là chúng phải được diễn giải bằng
ngôn từ chính xác. Chọn từ ngữ đúng cho các khái niệm không
phải là quá trình vô thức mà đôi khi cũng đầy thử thách.
Không ít lần chúng ta rơi vào tình cảnh muốn nói nhưng
không tìm được từ để nói.
Làm thế nào để bảo đảm ngôn từ phù hợp với các khái niệm
cần truyền đạt? Chúng ta phải tìm hiểu nguồn gốc của các khái
niệm – giống với quá trình xác minh tính rõ ràng và hoàn
chỉnh của các khái niệm. Thông thường sẽ không thể tìm được
từ ngữ đúng cho một khái niệm nếu chúng ta không hiểu
tường tận khái niệm đó. Khi nào khái niệm được làm sáng tỏ
bằng cách tra cứu nguồn gốc trong thế giới khách quan, từ ngữ
đúng sẽ đến với chúng ta.
Đôi khi từ ngữ và khái niệm là một cặp đôi hoàn hảo. Theo đó,
sẽ có một hôn ước giữa từ ngữ và sự vật, vì nếu sự vật được
phản ánh chân thực trong khái niệm và từ ngữ biểu thị chính
xác khái niệm thì chắc chắn từ ngữ sẽ miêu tả sự vật kia một
cách trung thực. Điều này là dễ dàng với những khái niệm đơn
giản. Nếu tôi nói, “Tượng đài làm bằng đá hoa cương,” và
tượng đài mà tôi nói đến thực tế làm bằng đá hoa cương thì
trong từ “đá hoa cương” tôi đã kết hợp hoàn hảo khái niệm
với sự vật mà nó phản ánh. Nhưng mọi chuyện không còn dễ
dàng khi vấp phải những khái niệm phức tạp. Quy tắc chung
vẫn không thay đổi: để đảm bảo việc sử dụng ngôn từ chính
xác, hãy quay về với thực tại khách quan – yếu tố nền tảng để
giải nghĩa cho từ ngữ đó.
Khi nỗ lực sử dụng ngôn từ để diễn tả chính xác khái niệm,
mục tiêu trên hết của chúng ta là: sắp xếp từ ngữ sao cho
chúng truyền tải chính xác hiện thực khách quan đến người
nghe. Ngôn ngữ không những cần phù hợp với khái niệm mà
còn phải ăn khớp với những khái niệm rõ ràng và hoàn chỉnh.
Ví dụ tôi say sưa khẳng định sự tồn tại của Lilliput và cung
cấp đủ thứ khái niệm về nó. Tôi có thể tìm ra hàng tá từ ngữ
biểu đạt những khái niệm này cho bạn nhưng tất cả những gì
mớ từ ngữ này làm là thể hiện trí tưởng tượng của tôi chứ
không phải hiện thực của thế giới. Chúng thể hiện thực tại chủ
quan thay vì thực tại khách quan.
7. Giao tiếp hiệu quả
Ngôn ngữ và logic gắn bó bền chặt với nhau. Điều này sẽ sáng
rõ hơn khi chúng ta nhìn lại mối quan hệ giữa khái niệm và từ
ngữ. Dù đây vẫn là điểm khiến các chuyên gia còn tranh luận
nhưng có vẻ như ai cũng nhận ra mình có thể giữ một khái
niệm trong tâm trí mà không cần một từ ngữ chính xác cho nó.
Chỉ tới khi nào muốn truyền đạt khái niệm đến người khác,
chúng ta mới buộc phải sử dụng từ ngữ. Và như đã nhắc đến ở
trên, từ ngữ càng biểu đạt chính xác khái niệm thì hoạt động
giao tiếp càng rõ ràng và hiệu quả.
Khớp từ ngữ với khái niệm là bước đầu tiên và căn bản nhất
trong giao tiếp. Bước tiếp theo là sắp xếp các khái niệm lại với
nhau để tạo thành những phát biểu mạch lạc. Nếu tôi nói “con
chó” hoặc “con mèo,” bạn sẽ có tâm thế chờ đợi để nghe nội
dung tiếp theo. Bạn sẽ thắc mắc tôi muốn nói gì về chó hay
mèo. Qua lời nói của tôi, bạn biết rõ những khái niệm nhưng
không biết tôi định cung cấp thông tin gì về chúng. Tôi chỉ
mới đơn thuần nhắc đến các khái niệm mà chưa nói gì về
chúng. Các khái niệm mang nội dung khi chúng được sắp xếp
thành phát biểu và có thể tạo nên phản ứng đồng tình hay phản
đối từ người nghe. Hãy để ý xem! Nếu ai đó chỉ đơn thuần nói
từ “mèo,” sẽ không có nhiều nội dung để phản hồi lại “Đúng
rồi” hay “Sai rồi.” Nhưng nếu ai đó nói “Con mèo đang ở
trong nhà xe” thì những phản hồi như trên là thích hợp. Phát
biểu mà ta vừa nhắc đến có một ý nghĩa đặc biệt trong logic.
Nó là một biểu thức ngôn ngữ chấp nhận phản hồi “đúng”
hoặc “sai.”
Từ ngữ được xem là những viên gạch nền tảng xây dựng nên
ngôn ngữ, còn logic lại bắt đầu từ mệnh đề. Bởi vì chỉ với
mệnh đề mới đặt ra câu hỏi về tính đúng sai và logic sẽ xác
định cái gì đúng và phân biệt nó với cái sai. Đôi khi để xác
định tính đúng sai của một mệnh đề, ngay cả những mệnh đề
rõ ràng cũng là việc khó khăn. Nhưng nếu chúng ta gặp khó
khăn trong việc hiểu nội dung của mệnh đề thì khó khăn sẽ
càng chồng chất hơn. Bởi vì trước hết chúng ta phải tìm ra ý
nghĩa của mệnh đề rồi chuyển sang bước quan trọng là xác
định tính đúng sai của nó. Do đó, giao tiếp rõ ràng, hiệu quả là
rất quan trọng.
Hiệu quả giao tiếp sẽ không tốt nếu thiếu đi tư duy rành mạch.
Tôi khó lòng giải thích minh bạch một khái niệm cho bạn nếu
tôi chỉ hiểu lờ mờ về nó. Thế nhưng nắm rõ các khái niệm vẫn
không bảo đảm cho một phát ngôn rành mạch. Hiểu rất rõ
những khái niệm đang muốn nói đến vẫn không đạt được
thành công trong giao tiếp nếu bạn không biết cách truyền đạt
chúng rõ ràng.
Dưới đây là một vài nguyên tắc cơ bản hoạt động giao tiếp đạt
hiệu quả:
Đừng mặc định rằng người nghe hiểu ý bạn nếu bạn không
nói rõ ràng
Với những chủ đề càng phức tạp thì nguyên tắc này càng trở
nên quan trọng. Đôi khi chúng ta cứ đinh ninh rằng người
nghe đã có những thông tin nền tảng cần thiết để hiểu đúng
chủ đề mà mình đang nói, nhưng thực tế, người đó có thể vẫn
còn lạ lẫm với thông tin ấy. Nếu họ còn hoài nghi, hãy giải
thích rõ những thông tin nền tảng. Nói quá nhiều vẫn tốt hơn
là nói quá ít.
Sử dụng những câu hoàn chỉnh
Loại câu mà logic quan tâm nhiều nhất là câu trần thuật. Một
câu trần thuật giống như một phát ngôn (còn được gọi là
“mệnh đề” trong logic). Nếu tôi nói “Chó rùa,” “Sự rớt giá
của chứng khoán trong tháng Bảy,” “Mặt tiền tòa nhà đá vôi
Indiana,” bạn có thể đoán rằng tôi định kết hợp vài khái niệm
nào đó lại với nhau nhưng không biết tôi làm bằng cách nào.
Bởi vì tôi chưa xây dựng được những phát biểu trọn vẹn. Tôi
cần phải nói những câu hoàn chỉnh như: “Con chó cắn con
rùa,” “Chứng khoán rớt giá trong tháng Bảy khiến Julian
phiền muộn,” “Mặt tiền công trình đá vôi Indiana bị huỷ hoại
bởi những kẻ ngu dốt chuyên phá hoại các công trình văn
hoá.”
Đừng xem những phát biểu đánh giá như những phát biểu về
thực tại khách quan
“Toà nhà Pearce nằm ở góc đường Main và Adams” là một
phát biểu về thực tại khách quan. Những phát biểu kiểu này
không đúng thì sai. “Toà nhà Pearce xấu xí” là một phát biểu
đánh giá. Những phát biểu kiểu này kết hợp cả yếu tố khách
quan và chủ quan. Những phát biểu đánh giá không tạo ra các
phản hồi đúng/ sai đơn thuần. Chúng ta không nên đưa ra
những phản hồi vô căn cứ. Nhưng chúng ta lại thường coi một
phát biểu đánh giá như một phát biểu về thực tại khách quan.
Những phát biểu đúng với thực tại khách quan không thể đem
ra tranh luận nhưng những phát biểu đánh giá thì có thể. Để
mọi người chấp nhận một phát biểu đánh giá của mình, tôi
phải biện hộ cho nó.
Tránh phủ định kép
Trong tiếng Tây Ban Nha, các phủ định kép có tác dụng nhấn
mạnh tính phủ định trong câu. Trong tiếng Anh, phủ định kép
huỷ bỏ tính phủ định và biến câu trở thành khẳng định (trong
tiếng Việt cũng vậy). Hiện tượng này đôi khi khiến ta bối rối,
vì câu có hình thức phủ định nhưng thực ra lại là câu khẳng
định. Để tránh lối diễn đạt rối rắm và mập mờ đó, không nên
sử dụng lối phủ định kép. Thay vì nói: “Không chắc là cô ấy
sẽ không được chào đón,” hãy nói: “Cô ấy sẽ được chào
đón.”
Hãy sử dụng ngôn ngữ phù hợp với người nghe
Nếu bạn là một nhà vật lý học đang thảo luận về nguyên lý bất
định với đồng nghiệp trong một hội thảo chuyên ngành, bạn có
thể tự do sử dụng những thuật ngữ chuyên ngành. Nhưng nếu
được yêu cầu giải thích nguyên lý này cho một nhóm không
phải các nhà vật lý, bạn nên lựa chọn ngôn từ và cách trình
bày dễ hiểu nhất có thể. Đừng sử dụng những biệt ngữ chỉ để
gây ấn tượng với mọi người. Mục tiêu của bạn là giao tiếp. Hai
thái cực chúng ta cần tránh là nói giọng kẻ cả hay giọng hiểu
biết với người khác.
Một điểm quan trọng cần lưu ý là ngôn ngữ của chúng ta chỉ
phù hợp với người nghe khi chúng ta thực sự hiểu họ. Do đó,
việc đầu tiên bạn phải làm là tìm hiểu về tư chất, lai lịch của
đối tượng mà bạn cần nói chuyện càng nhiều càng tốt.
8. Tránh sử dụng ngôn ngữ mơ hồ, tối nghĩa
Ngôn ngữ mơ hồ và tối nghĩa hạn chế sự rõ ràng và hiệu quả
trong giao tiếp. Từ “mơ hồ” (vague) trong tiếng Anh xuất phát
từ tính từ vagus trong tiếng Latin nghĩa là “lan man”; từ “tối
nghĩa” (ambiguous) trong tiếng Anh có nguồn gốc từ
amgibere trong tiếng Latin có nghĩa là “đi lang thang.” Nghĩa
là những từ ngữ và cách diễn đạt mơ hồ, tối nghĩa đi lang
thang khắp các khái niệm khác nhau thay vì ghé lại một khái
niệm cụ thể nào đó. Nhược điểm chung của chúng là không
chứa đựng một nghĩa cụ thể, cố định nào và dễ gây nhầm lẫn.
Một từ ngữ mơ hồ khi nó không quy chiếu rõ ràng. Chúng ta
không biết chính xác nội dung từ đó muốn truyền tải. Hãy xem
hai phát biểu sau: “Người ta không thích thể loại nhạc này” và
“Họ nói ông ấy sẽ không tham gia tranh cử lần hai.” Phản
ứng tự nhiên với phát biểu thứ nhất sẽ là: “Người ta là ai và
thể loại nhạc nào?” Phản ứng với phát biểu thứ hai sẽ là: “Họ
là ai?” Trong cả hai ví dụ, chúng ta không chắc chắn về nội
dung của thông điệp vì không có thông tin chính xác. Thay
vào đó, hãy phát biểu thế này: “Những người từng được đào
tạo ở Nhạc viện San Francisco không thích thể loại âm nhạc
dân gian West Cork” hay “Ứng viên từ Ủy ban tuyển chọn của
Đảng Dân chủ tuyên bố rằng ông sẽ không tham gia tranh cử
nữa.” Khi đó, chúng ta sẽ có ý kiến phản hồi rõ ràng hơn.
Từ ngữ càng chung chung thì ý nghĩa càng mơ hồ. Một giải
pháp chắc chắn để tránh sự mơ hồ là chọn lựa ngôn từ chính
xác và chi tiết nhất có thể. Độc giả hay thính giả của bạn sẽ
không phải đoán già đoán non xem bạn đang nói gì. Nếu bạn
muốn nói đến ghế đu, ghế cổ, ghế nha sĩ hay ghế điện thì hãy
sử dụng đúng những từ đó thay vì từ “ghế” chung chung.
Thông thường dựa vào ngữ cảnh, người nghe có thể đoán ra
vật quy chiếu của những từ ngữ chung chung, nhưng để có quy
chiếu chính xác hãy sử dụng những từ cụ thể.
Những từ như “tình yêu,” “dân chủ,” “công bằng,” “bình
đẳng,” “cái tốt,” “cái xấu” mơ hồ không phải vì chúng không
có nghĩa cụ thể mà vì chúng quá giàu sắc thái ý nghĩa. Do đó,
hai người cùng sử dụng một từ, ví dụ “tình yêu”, nhưng có thể
hiểu nó theo những cách khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Đó là lý do tại sao khi sử dụng những từ ngữ kiểu này, bạn bắt
buộc phải thể hiện rõ sắc thái ý nghĩa mình muốn nói. Trước
khi cố gắng thuyết phục người nghe về sự bất công trong một
tình huống nào đó, bạn cần phải đưa ra quan điểm rõ ràng về
công bằng.
Một từ tối nghĩa (“lập lờ”, theo ngôn ngữ logic) là từ có nhiều
hơn một nghĩa và ngữ cảnh không giúp làm rõ nét nghĩa chính
xác mà người nói muốn truyền đạt. Một biển báo hiệu đặt tại
ngã rẽ ghi “BEAR TO THE RIGHT”, có thể được hiểu theo
hai nghĩa khác nhau. Có thể là chỉ dẫn người đi đường nên rẽ
phải chứ không rẽ trái. Nhưng cũng có thể người bảo vệ rừng
viết tấm biển để cảnh báo người đi đường không nên rẽ phải vì
có một con gấu xám trong khu vực mà con đường này chạy
qua. Có thể thấy, ngôn ngữ của viên bảo vệ rất bất cẩn, dễ
khiến người đọc hiểu sai nghĩa và dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng. Cách duy nhất để tránh sự tối nghĩa là viết rõ
ràng nhất...
 





