Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
Thung Nuoc Leo - Guy de Maupassant

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:05' 28-04-2024
Dung lượng: 396.8 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:05' 28-04-2024
Dung lượng: 396.8 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
THÙNG NƯỚC LÈO
Nguyên tác: Boule de Suif
Tác giả: Guy de Maupassant
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
Tạo eBook: Goldfish
Ngày hoàn thành: 16.11.2013
TVE-4u
MỤC LỤC
Guy de Maupassant
Thùng nước lèo
GUY DE MAUPASSANT
Độc giả ít ai còn lạ với Guy de Maupassant (1850-1893) nên chúng tôi
không cần phải giới thiệu nhiều. Ông với Honoré Balzac (1799-1850) là hai
tiểu thuyết gia Pháp ở thế kỉ trước được Âu, Mĩ, mà có lẽ cả thế giới khâm
phục nhất.
[1]
Guy de Maupassant
Anatole France bảo “nghệ thuật viết truyện của ông hoàn toàn: mạnh
mẽ, uyển chuyển mà cân xứng”. Léon Tolstoi khen ông là “đã đạt được
những chỗ thâm áo yên lặng của con người”. Còn những tiểu thuyết gia
Anh như Joseph Conrad và William Somerset Maugham đều nhận rằng “tài
kể chuyện của ông thì không ai bằng”; nhất là Maugham coi ông như bậc
thầy của mình, chịu phục rằng nhiều truyện ngắn của ông, không dư mà
cũng không thiếu một chi tiết, đem kể ra thì bất kì ai nghe cũng phải mê.
Tác phẩm của ông gồm non hai chục cuốn vừa truyện ngắn, truyện dài
(không kể một tập thơ). Nhiều nhà phê bình đồng ý rằng truyện dài hay nhất
của ông là Une Vie (Một đời sống); còn truyện ngắn xuất sắc nhất là Boule
[2]
de Suif mà chúng tôi dịch là Thùng Nước Lèo. Chính truyện ngắn này đã
được nhà xuất bản Seghers lựa trong tập Les Vingt meilleures nouvelle
française (1956) và nhà Pocket Library trích và ca tụng trong tập: The great
short stories of De Maupassant (1955).
Trong khoảng bốn chục trang, tác giả kể cho ta nghe một bi hài kịch thời
chiến tranh Pháp – Phổ (1870). Nhân vật gần đủ các giới trong xã hội Pháp
thời đó: giới quí phái, giới con buôn trọc phú, giới cách mạng, giới cần
lao… nhân vật chính là một gái điếm, mà hạng người còn có liêm sỉ giữ
được chút thiên lương lại chính là ả gái điếm đó chứ không phải là bọn
thượng lưu như ta tưởng.
Ông không giảng luân lí, không dựng một triết thuyết, không phân tích
tâm lí, cơ hồ như cũng không có thắc mắc nào cả, chỉ kể chuyện một cách
khách quan, không thương cũng không ghét, mà rất có nghệ thuật, tình tiết
xảy ra tự nhiên, đoạn trước gợi ra đoạn sau, đoạn sau giảng thêm đoạn
trước, thành thử câu chuyện rất nhất trí, mạnh mẽ, đầy đủ mà hấp dẫn, đọc
không thấy chán. Đọc xong ai cũng thấy chua chát và có cảm tưởng rằng
tác giả nhìn xã hội mắt một cặp mắt tinh quái, ngạo đời, nhưng không tàn
nhẫn.
Riêng chúng tôi, chúng tôi thấy có vài nét hơi đậm, mạnh và bén thật,
nhưng kém phần tế nhị; có lẽ đó là một tật chung của tuổi trẻ vì ông viết
chuyện đó hồi mới ngoài hai mươi. Những tác phẩm hồi sau giọng đằm khi
đã từng trải nhiều, lòng trắc ẩn của ông mới hiện rõ, như trong truyện dài
Une Vie chẳng hạn.
Dù sao, văn mỗi tuổi cũng có vẻ đẹp riêng của nó, và Thùng Nước Lèo
vẫn đáng là “một trong những bi kịch hay nhất của hậu bán thế kỉ
[3]
trước” .
THÙNG NƯỚC LÈO
[4]
BOULE DE SUIF
Luôn mấy ngày liền, những mảnh tàn quân đã đi qua châu thành.
Không còn phải là một bộ đội nữa mà chỉ là một bầy ô hợp tán loạn. Râu thì
dài và bẩn, quân phục thì rách rưới, họ uể oải tiến, chẳng cờ xí, chẳng kỷ
luật gì cả. Hết thảy đều có vẻ mệt đừ, không suy nghĩ, quyết định được gì
nữa, chỉ do thói quen mà bước, chứ hễ dừng lại là té quị liền vì kiệt sức.
Nhiều nhất là bọn bị động viên, hạng người vốn hiếu hòa, yên nhiên hưởng
lợi tức đó mang không nổi cây súng; rồi tới bọn dân quân nhỏ bé, nhanh
nhẹn, dễ hoảng hốt mà cũng dễ hăng tiết, sẵn sàng chiến đấu mà cũng sẵn
sàng đào tẩu; xen vào những bọn đó có vài tên lính chánh qui, quần cụt đỏ
đã mệt đừ, còn sót lại sau một trận lớn; một số lính pháo thủ ủ rủ sắp hàng
với những bộ binh hỗn tạp đó; và thỉnh thoảng người ta thấy cái nón bóng
loáng của một kị binh nặng nề bước mà theo không kịp bọn phóng viên
nhanh nhẹn.
Tới phiên những đoàn nghĩa dũng quân đi ngang qua, tên thì rất oai
hùng: “Đội trả thù Chiến bại – Đội Công dân của Nhà mồ - Đội Chia phần
chết”, mà vẻ mặt thì y như tụi ăn cướp.
Chủ soái của họ, xưa kia buôn nỉ hay buôn lúa, bán mỡ bò hay bán xà
bong, do hoàn cảnh mà thành chiến sĩ, nhờ có nhiều tiền hay có bộ râu mép
dài mà được phong làm sĩ quan, mình đeo đầy khí giới, bận đồ nỉ, gắn lon,
bàn cãi oang oang về những trận đồ, phách lối khoe khoang rằng chỉ có
mình là đưa vai ra để chống đỡ nước Pháp hấp hối; nhưng đôi khi họ sợ
ngay những lính của họ, bọn đầu trộm đuôi cướp, thường can đảm ghê gớm,
phá phách và trụy lạc.
Tụi Phổ sắp vô thành Rouen, người ta bảo vậy.
Đội dân quân, hai tháng nay, thận trọng dò xét trong những cánh rừng
bên cạnh, có khi bắn lầm vào lính gác của mình, và mới nghe thấy tiếng
động của một con thỏ con ở trong bụi là đã lắp đạn sẵn sàng chiến đấu rồi,
bây giờ cũng đã giải tán, ai về nhà nấy. Khí giới của họ, quân phục của họ,
tất cả những khí cụ sát nhân của họ trước kia làm cho các cây trụ trên quốc
lộ trong một khu rộng ba dặm ở chung quanh phải bở vía, bỗng biến đi đâu
mất hết.
Những người lính Pháp cuối cùng mới qua con sông Seine để theo
đường Saint-Sever, Bourg-Achard mà tới Pont-Audemer, và ở cuối đoàn,
viên tướng tuyệt vọng, vô phương mưu tính cái gì được với bọn tàn quân
rời rạc đó, đành bước theo họ, giữa hai sĩ quan hầu cận. Vì chính ông cũng
ngơ ngác trong cuộc tan rã lớn lao của một dân tộc quen thắng trận mà rồi
thua một cách tai hại mặc dầu khét tiếng hùng dũng.
Rồi thì một không khí trầm lặng, chờ đợi, hoảng hốt, bao phủ khắp châu
[5]
thành. Nhiều ông trọc phú buôn bán riết rồi hóa ra bụng bự, mất cả khí
lực y như một tụi hoạn, lo lắng run rẩy đợi kẻ thắng tới, chỉ sợ chúng cho
những cây tiêm nướng thịt và những con dao phay là khí giới thì có mà bỏ
mạng với chúng.
Đời sống như ngưng lại; tiệm thì đóng cửa, mà đường phố thì không có
tiếng người. Thỉnh thoảng một thường dân thấy cảnh tĩnh mịch đó đâm
hoảng, nép vào chân tường mà chạy.
Đợi chỉ thêm lo, nên người ta mong kẻ thù tới phắt đi cho rồi.
*
Buổi chiều sau cái ngày quân Pháp rút đi, vài tên kị binh Phổ, không
biết ở xó nào chui ra, vội vã băng qua châu thành. Rồi một lát sau một đám
đen từ dốc Sainte-Catherine tiến xuống trong khi hai đợt sóng xâm lăng
xuất hiện trên những con đường Darnetal và Boisguillaume. Cùng một lúc,
tiền quân của ba đội đó hợp nhau lại ở Thị Sảnh, và do tất cả những đường
phố chung quanh, quân Đức ập tới, trải ra trên đường, bước chân gõ nhịp
nhàng vang động.
Trong khi những hiệu lệnh hô lớn bằng một giọng lạ tai, ồ ồ dội lên
giữa hai dãy nhà như bỏ hoang, thì sau những cánh cửa sổ khép, có những
cặp mắt rình ngó bọn người thắng trận, bọn người do “quyền chiến tranh”
mà được làm chủ châu thành, chủ tài sản và sinh mạng. Ở trong căn phòng
tối tăm vì đóng kín, dân chúng hoảng sợ như gặp thiên tai, những cuộc biến
chuyển tàn hại của trái đất mà kẻ nào khôn lanh, mạnh mẽ tới mấy cũng
đành thúc thủ. Vì mỗi lần mà trật tự bị đảo lộn làm mất sự an toàn, mà luật
lệ của loài người và vũ trụ không còn che chở được cái gì nữa, mà mọi sự
đều bị một sức tàn bạo vô ý thức chi phối, thì cái cảm giác đó lại hiện lên.
Một cuộc động đất đè bẹp cả một dân tộc dưới những ngôi nhà sụp đổ; một
trận lụt cuốn thây những người nông dân với thây những con bò hay những
cây xà nhà bức lìa nóc, hoặc một đội quân thắng trận tàn sát những kẻ dám
chống cự lại, lùa bọn tù binh đi, rồi nhân danh lưỡi kiếm mà cướp bóc, và
cảm ơn một vị Thần nào đó bằng tiếng đại bác; những cái đó đều là những
tai ách khủng khiếp làm cho người ta chưng hửng, hết tin ở lẽ công bình
của Thượng đế, hết tin ở sự che chở của Trời và ở lẽ phải của loài người
như trong sách thường dạy.
Kế đó những toán người đi gõ cửa từng nhà và biến mất vào trong nhà.
Sau khi chiếm đất rồi tới lúc đóng quân. Bổn phận của kẻ thua là phải tỏ ra
ân cần với kẻ thắng.
Được ít lâu, sự hoảng sợ lúc đầu đã qua, sự yên tĩnh trở lại. Trong nhiều
gia đình, sĩ quan Phổ ăn chung một bàn với chủ nhà. Vài kẻ cũng có giáo
dục, tỏ vẻ nhã nhặn mà thương hại cho nước Pháp và bảo rằng không muốn
dự cái chiến tranh này, nó tởm lắm. Người ta mang ơn họ đã có thiện cảm
với mình, vả lại, biết đâu chừng, sau này chẳng có lúc cần sự che chở của
họ. Vị nể họ thì có thể xin bớt được vài miệng phải nuôi. Đã hoàn toàn ở
trong tay họ rồi thì làm mất lòng họ làm chi? Hành động như vậy không
phải là can đảm mà là táo bạo – Mà các ông trọc phú ở Rouen không còn
cái tật táo bạo như hồi xưa, hồi châu thành đó rạng danh vì những cuộc
chống cự anh dũng nữa – Sau cùng người ta tự nhủ rằng – và đây là cái lý
do tối thượng người ta rút được trong phép lịch sự của Pháp – miễn là ra
ngoài đường đừng tỏ ra thân mật với lính ngoại quốc, còn ở trong nhà thì có
thể lễ phép với họ được. Ra ngoài, thì là người lạ, mà ở nhà thì cứ vui vẻ
chuyện trò; và người Đức mỗi buổi tối lại ngồi sưởi nán thêm một lúc ở bên
lò sưởi chung.
Đến ngay châu thành cũng lần lần có vẻ bình thường trở lại. Người
Pháp vẫn chưa ra đường nhưng lính Phổ thì lúc nhúc ngoài phố. Với lại,
bọn sĩ quan khinh kị bận đồ xanh, tuy ngạo nghễ kéo lê thanh gươm trên
mặt đường, nhưng đối với bọn dân chất phác, coi vẻ cũng không khinh họ
gì quá lắm, không khó chịu gì hơn bọn sĩ quan truy kích mà năm trước,
từng giải khát ở những quán cà phê này.
Nhưng trong không khí vẫn có cái gì, một cái gì tế nhị và bí mật, một
không khí lạ, chịu không nổi, như có một mùi gì nó lan ra, mùi xâm lăng.
Nó đầy trong các tư gia, trong các công trường, làm cho thức ăn mất vị và
người ta có cảm tưởng đi du lịch ở đâu xa lắm, tại những bộ lạc dã man và
nguy hiểm.
Tụi thắng trận đòi tiền, rất nhiều tiền. Dân châu thành luôn luôn phải
trả; với lại người ta giàu có mà. Nhưng một thương gia càng giàu có, thì lại
càng đau khổ vì phải hi sinh của cải khi thấy đồng tiền kiếm ra được vào tay
kẻ khác mất.
Tuy nhiên theo dòng sông đi xuôi xuống phía dưới châu thành độ vài ba
dặm, về phía Croisset, Dieppedalle hoặc Biessart, những người chèo thuyền
hay đánh cá thường kéo lên được ở đáy sông xác một tên Đức bận quân
phục; đã trương ra, bị đâm hay đập, liệng đá bể đầu hay từ trên cầu cao xô
xuống dòng nước. Bùn sông vùi lấp những cuộc trả thù tối tăm, man rợ, âm
thầm đó, nó nguy hiểm hơn những cuộc chiến đấu giữa thanh thiên bạch
nhật mà lại không có tiếng vang của danh vọng.
Vì luôn luôn có những người Đại đởm căm thù kẻ ngoại quốc mà sẵn
sàng chết cho một lí tưởng.
Sau cùng, thấy bọn xâm lăng mặc dầu bắt châu thành phải phục tòng
một kỉ luật sắt, nhưng không có những hành động ghê tởm mà người ta
phao lên trong cuộc tiến binh đắc thắng của họ, nên dân chúng bạo dạn lên
và bọn thương gia lại thấy cần phải buôn bán, không thể ngồi không được.
Vài người có những mối lợi lớn mắc kẹt ở Havre còn do quân đội Pháp
chiếm, và họ muốn đi theo đường bộ tới Dieppe rồi xuống thuyền ra hải
cảng đó.
Người ta làm quen với sĩ quan Đức, vận động xin viên tướng tổng tư
lệnh một giấy phép xuất hành.
Một chiếc xe lớn bốn ngựa đã được giữ trước cho cuộc hành trình đó,
mười người đã ghi tên ở nhà chủ xe, và người ta định sáng thứ ba, khởi
hành khi còn tối đất để đi cho dân chúng khỏi bu lại coi.
*
Từ mấy bữa nay, đất đóng giá, cứng ngắc, và vào khoảng ba giờ chiều
hôm thứ hai, những đám mây đen từ phương Bắc đùn về rồi tuyết đổ liên
tiếp suốt buổi tối và ban đêm.
Bốn giờ rưỡi sáng, hành khách họp nhau ở sân khách sạn Hôtel de
Normandie để lên xe.
Họ còn ngái ngủ, quấn mền mà vẫn rét run. Trong bóng tối người ta
không thấy rõ mặt nhau; người nào cũng bận những bộ áo lạnh dày cộm và
nặng nề, coi y như là những ông mục sư bụng bự lượt bượt trong bộ áo thầy
tu vậy. Nhưng có hai người nhận được nhau, rồi một người thứ ba tiến lại,
họ trò chuyện với nhau.
Một người nói:
- Tôi dắt nhà tôi theo.
- Tôi cũng vậy.
- Mà tôi cũng thế.
Người thứ nhất nói thêm:
- Chúng tôi sẽ không trở về Rouen nữa và nếu tụi Phổ tiến lại Havre thì
chúng tôi sẽ qua Anh.
Khí chất giống nhau nên dự tính của họ cũng giống nhau.
Nhưng sao vẫn chưa thắng xe kìa? Một ngọn đèn nhỏ - do một tên giữ
ngựa cầm – thỉnh thoảng ở trong một cái cửa tối om hiện ra rồi lại biến
ngay vào trong một cái cửa khác. Ở phía sau nhà có tiếng chân ngựa dậm
đất, nhưng nghe không vang vì đất phủ rơm, rồi có tiếng đàn ông nói với
ngựa và chửi thề. Tiếng lục lạc leng keng báo rằng người ta lấy bộ cương
ra, rồi tiếng đó rung lên, trong trẻo, đều đều, nhịp nhàng theo bước chân
ngựa, thỉnh thoảng ngưng một chút rồi thình lình khua động trở lại, tiếp
theo là tiếng lục đục của những móng sắt dậm trên mặt đất.
*
Đột nhiên cửa khép lại. Mọi tiếng ngưng hẳn. Bọn trọc phú lạnh cóng,
cứng ngắc, không nói năng gì cả.
Một bức màn tuyết trắng bất tận, liên tục rớt xuống đất, lấp lánh; mọi
vật đều mất hình, phủ một lớp bụi như bọt nước đá; và trong cảnh tĩnh mịch
của thành phố yên lặng, bị vùi dưới mùa đông, người ta chỉ nghe thấy tiếng
sột soạt mơ hồ, chập chờn, không có tên để gọi, của tuyết rơi; nó là một
cảm giác hơn là tiếng động, nó là sự xen trộn của những vật rất nhỏ và nhẹ
đầy cả không trung, khắp cả mặt đất.
Người đàn ông mang cây đèn hiện ra, tay cầm đầu dây kéo một con
ngựa; con vật buồn rầu miễn cưỡng bước. Người đó ghìm con ngựa ở sát
càng xe, cột lại, loay hoay một lúc lâu ở chung quanh để thắng cho được
chắc, vì một tay mắc cầm đèn rồi, chỉ có một tay là rảnh. Khi người đó quay
lại kiếm con ngựa thứ nhì thì nhận thấy rằng hành khách đứng im, tuyết đầy
người, bèn bảo: “Tại sao không lên xe mà ngồi, ít nhất cũng khỏi phải hứng
tuyết.”
Có lẽ họ không hề nghĩ tới, nay có người nhắc, họ mới ùa lên xe. Ba
người đàn ông để cho vợ ngồi trong cùng rồi leo lên theo; những bóng tờ
mờ tùm hụp khác lẳng lặng lên chiếm những chỗ còn lại.
Sàn xe phủ đầy rơm, chân họ lún xuống. Những bà ngồi ở trong có đem
theo lồng ấp nhỏ bằng đồng, đốt thứ than hóa học lên rồi thì thầm kể những
tiện lợi của thứ lồng ấp đó cho nhau nghe, lặp lại những điều mà ai nấy biết
thừa rồi.
Sau cùng xe đã thắng xong sáu con ngựa chứ không phải bốn, vì phải
kéo nặng. Một tiếng ở ngoài hỏi vô: “Mọi người lên xe cả rồi chứ?” Có
tiếng ở trong đáp: “Rồi”. Thế là khởi hành.
*
Xe tiến chậm, chậm quá, từng bước một. Bánh xe lún xuống tuyết;
thùng xe rắc rắc, rên rỉ; ngựa trượt chân thở phì phì; và chiếc roi lớn của
người đánh xe, kêu đôm đốp hoài, bay tứ phía, cuốn lại rồi bung ra như một
con rắn tong teo, thình lình quất vào một cái mông ngựa tròn, làm cho con
vật phải lấy gân mà gắng sức.
Ánh sáng lên lần lần mà không hay. Tuyết không đổ nữa. Một hành
khách, dân Rouen chính cống, so sánh tuyết đổ với một trận mưa bông gòn.
Một ánh sáng đục lọc qua những đám mây lớn, đen và nặng, làm cho cảnh
đồng quê trắng xóa càng thêm phần rực rỡ; đây đó hiện lên một hàng cây
lớn đóng giá hoặc một mái nhà tranh phủ tuyết.
Trong ánh sáng ảm đạm của bình minh, hành khách trên xe nhìn nhau.
Ở trong cùng, chiếm những chỗ tốt nhất, vợ chồng Loiseau, buôn rượu
ở đường Grand-Pont, đương thiêm thiếp ngủ.
Trước kia làm tài phú cho một nhà buôn, nhà buôn này phá sản, Loiseau
mua lại cửa tiệm mà làm giàu. Hắn bán rất rẻ những thứ rượu rất tồi cho các
tiệm bán lẻ ở nhà quê và trong giới quen biết thân hay sơ, người ta đều coi
hắn là một tên bợm quỷ quyệt, một dân Normand chính cống, mưu mô, vui
tính.
Hắn nổi danh xoáy đến nỗi một buổi tối nọ ở quận, ông Tournel, một
nhà đặt ngụ ngôn và vè có giọng cay độc và tế nhị, được nhiều người trong
miền biết tiếng, khi thấy các bà các cô buồn ngủ cả, mới đề nghị chơi trò
[6]
“Loiseau bay” rồi danh từ đó bay khắp các phòng khách ở quận, lan ra
tới tỉnh, làm cho dân trong tỉnh cười sái hàm suốt một tháng trời.
Loiseau còn có tài khôi hài, thanh nhã và tục tĩu, đủ giọng, và nhắc đến
tên hắn thì ai cũng phải bảo:
- Thằng cha đó thật tức cười!
Nhỏ con mà bụng tròn như trái banh, mặt đỏ, râu mép lốm đốm hoa
râm.
Mụ vợ cao lớn, cương quyết, to tiếng, quyết định mau, trông nom sổ
sách tiền nong trong cửa hàng, nhờ mụ mà cửa hàng hoạt động và vui vẻ.
Bên cạnh cặp đó, là lão Carré-Lamadon, đàng hoàng hơn, ở trong một giới
sang trọng hơn, được trọng vọng, có địa vị trong nghề buôn bông, làm chủ
ba hãng dệt, được thưởng Tứ đẳng Bắc đẩu bội tinh và là nghị viên quận
[7]
hạt. Trong suốt thời Empir . Lão cầm đầu phe đối lập có thiện chí, đả kích
bằng những khí giới lễ độ - như lão nói – mục đích duy nhất là để cho chính
quyền có muốn mua chuộc hắn thì phải trả một giá đắt. Mụ Carré-Lamadon
trẻ hơn ông chồng nhiều, là niềm an ủi cho những sĩ quan con nhà sang
trọng phải đổi đến đóng ở Rouen.
Đối diện với chồng, mụ ta nhỏ xíu rất dễ thương, rất xinh xắn, thu hình
trong bộ áo cầu, não nuột ngó phía trong thảm hại của chiếc xe.
Ngồi bên cạnh mụ là ông bà bá tước Hubert de Bréville một trong số
những gia đình quí phái kì cựu nhất ở Normandie. Ông bá tước già, rất sang
trọng, tướng mạo vốn đã hơi giống vua Henri IV lại được ông rán tô chuốt
cho càng giống hệt. Theo một truyền thuyết vẻ vang cho gia đình ông thì
vua Henri IV hồi xưa có làm cho một bà trong giòng Bréville mang bầu rồi
ông chồng của bà đó nhờ vậy được phong bá tước, làm thống đốc một tỉnh.
Bá tước Hubert là bạn đồng viện với lão Carré-Lamadon, thay mặt cho
đảng Orléan ở trong tỉnh. Tại sao mà ông lại cưới con gái một chủ tàu nhỏ ở
Nanter, thì tới bây giờ vẫn là chuyện bí mật. Nhưng bà bá tước có vẻ sang
trọng tiếp khách rất khéo, có kẻ đồn rằng bà được một người con của vua
[8]
Louis-Phillipe
để mắt tới, thành thử tất cả giới quí phái trong miền rất
niềm nở với bà mà phòng khách của bà nổi tiếng nhất tỉnh, khó khăn mới
được vô cái nơi độc nhất mà người ta còn giữ được thái độ phong nhã thời
cổ đó.
Gia tài của gia đình Bréville, gồm toàn bất động sản, theo thiên hạ kháo
nhau, lợi tức được tới năm trăm ngàn đồng mỗi năm.
Sáu người đó, ngồi ở phía trong cùng chiếc xe. Đó là khu của giới có lợi
tức, của bọn người lương thiện, có quyền hành, theo tôn giáo và sống có qui
tắc.
Do một sự ngẫu nhiên kỳ dị, đàn bà ngồi chung cả một ghế; và bên
cạnh bà bá tước có hai bà Phước đương lần tràng hạt lầm rầm tụng kinh Lạy
cha và kinh Kính mừng. Một bà Phước đã già, mặt rỗ như tổ ong. Bà kia rất
nhỏ yếu, mặt mũi xinh mà bệnh hoạn, ngực lép như người ho lao bị đức tin
tàn phá đục rỗng phổi, thứ đức tin nó tạo nên những kẻ cảm tử vì đạo.
Trước mặt hai bà Phước đó là một người đàn ông và một người đàn bà
mà mọi người đều chăm chú ngó. Người đàn ông là Cornudet, biệt danh
“dân chủ” mà ai cũng biết hắn là ông kẹ của hạng tôn tưởng. Từ hai chục
năm nay, hắn nhúng bộ râu đỏ và rậm vào những cốc rượu tại khắp tiệm cà
phê dân chủ. Hắn cùng với anh em và bạn bè đã ăn hết cái gia sản khá lớn
của cha hắn bán mứt để lại, và hắn nóng lòng đợi Chính phủ Cộng hòa
thành lập để nhận một địa vị xứng đáng cho bỏ cái công hắn uống bao nhiêu
[9]
là rượu dân chủ rồi. Ngày mùng bốn tháng chín , có lẽ do một trò khôi
hài, hắn tưởng được chức chủ quận, nhưng khi hắn tới nhậm chức, thì chỉ
có những tùy phái là làm chủ phòng giấy, họ lại không chịu nhìn nhận hắn
và hắn đành rút lui. Thực ra thì hắn tốt bụng, không làm hại ai, thích giúp
đỡ người khác, hắn tổ chức sự cự địch một cách hăng hái không ai bì. Hắn
sai đào hầm trong các cánh đồng, hạ những cây nhỏ trong các khu rừng bên
cạnh, đặt bẫy trên khắp các nẻo đường và khi quân thù sắp tới, khoái chí về
những công trình dự bị của mình, hắn vội vàng rút về châu thành. Bây giờ
hắn nghĩ nên lại Havre để giúp ích cho quốc gia được nhiều hơn, vì ở đó
sắp có những cuộc phòng bị cần thiết nữa.
Còn người đàn bà, một ả trong bọn gái điếm, cũng nổi tiếng, vì còn trẻ
mà đã mập, cho nên người ta gọi ả là Thùng Nước Lèo. Nhỏ mà tròn vo,
toàn những mỡ, ngón tay húp lên, thắt eo ở những đốt, y như chuỗi dồi
ngắn ngủn vậy, da láng bóng, căng thẳng, ngực vĩ đại nhô ra dưới lớp áo;
vậy mà coi ả vẫn gợi tình, lắm kẻ đeo đuổi ra phết, vì vẻ tươi tắn của ả làm
cho người ta ưa nhìn. Mặt ả như một trái táo đỏ, một nụ mẫu đơn hàm tiếu;
và trong cái mặt đó, phía trên, đính một cặp mắt đen nhánh, đẹp lạ, thăm
thẳm dưới hàng lông mi dài; phía dưới nở một cái miệng có duyên, nhỏ, cặp
môi ươn ướt sẵn sàng đón những cái hôn và hàm răng nhỏ nhắn, trắng
bóng.
Người ta bảo ả còn có nhiều đức rất quí nữa.
Khi các bà trong giới lương thiện nhận ra được ả, thì tiếng thì thầm lan
đi, người ta nói nhỏ với nhau những tiếng “điếm” “nhục nhã trơ trẽn”, tuy là
thì thầm mà lớn đến nỗi ả phải ngẩng đầu lên. Rồi ả ngó chung quanh, vẻ
khiêu khích bạo dạn làm cho mọi người tức thì im bặt, cúi đầu xuống chỉ
trừ có Loiseau là liếc ả, lòng phấn khởi.
Nhưng rồi ba bà lại tiếp tục truyện trò với nhau; có con điếm đó, họ
bỗng thấy thân mật với nhau hơn lên. Hình như họ nghĩ rằng trước mặt cái
đồ bán trôn vô sỉ đó, hạng có chồng con tử tế như họ phải đoàn kết lại với
nhau; vì ái tính hợp pháp bao giờ cũng khinh bỉ thứ ái tình tự do.
Ba ông cũng vậy, thấy Cornudet thì, vì bản năng bảo tồn mà thân nhau
hơn, nói chuyện với nhau về tiền nong bằng một giọng khinh khi kẻ nghèo.
Bá tước Hubert kể những tai hại do bọn Phổ gây ra, bò thì bị ăn cắp, mùa
màng thì mất mát, ông ra vẻ một ông lớn mười lần triệu phú, bị phá phách
như vậy mà không hề núng, có cùng lắm là khó chịu trong một năm thôi.
Lão Carré-Lamadon, mà kĩ nghệ bông lung lay nhiều, đã gởi sáu trăm ngàn
quan qua Anh, cũng như người ta để dành một trái lê phòng lúc khát vậy.
Còn Loiseau thì đã thu xếp để bán cho Quân nhu cục của Pháp hết số rượu
xấu còn ở trong hầm, thành thử chính phủ thiếu hắn một số tiền vĩ đại mà
lần này đi Havre hắn hy vọng sẽ được lãnh.
Cả ba người đều nháy nhau, thân mật. Tuy giai cấp khác nhau mà cũng
như anh em với nhau nhờ có đồng tiền cùng ở trong cái giới của bọn người
giàu có, bọn người thọc tay vào túi quần lúc lắc những đồng tiền vàng cho
kêu lẻng xẻng mà nghe.
Xe chạy chậm tới nỗi hồi mười giờ sáng vẫn chưa đi được bốn dặm.
Đàn ông phải xuống xe ba lần để leo dốc. Người ta đã bắt đầu lo, vì định ăn
cơm ở Tôtes mà cái điệu này thì không mong gì tới đó trước khi tối trời
được. Ai nấy đều ngó xem có cái quán nào trên đường không khi xe bị lầy
trong một đống tuyết và phải mất hai giờ mới thoát ra được.
Đói quá, trí óc người ta mụ đi, mà không thấy bóng một cái quán tồi,
một cái tiệm rượu nào cả, bọn chủ quán, chủ tiệm đã hoảng hốt tạm dẹp
nghỉ khi hay tin tụi Phổ và tụi lính Pháp chết đói sắp tới.
Bọn đàn ông chạy vô các trại ở bên đường để mua thức ăn, nhưng đến
bánh mì cũng không có, vì dân quê nghi ngại đã giấu hết cả rồi, sợ các ông
lính không có gì ăn, thấy có cái gì là cướp cái đó.
Khoảng một giờ chiều Loiseau kêu rằng kiến bò bụng quá rồi. Ai nấy
cũng ở trong tình trạng của hắn đã từ lâu, và nhu cầu ăn mỗi lúc một tăng đã
làm im bặt câu chuyện. Thỉnh thoảng có người ngáp dài, tức thì người khác
ngáp theo; mỗi người thay phiên nhau, tùy theo tính tình, cách xử thế và địa
vị trong xã hội của mình mà mở miệng ra hoặc kêu răng rắc hoặc kín đáo
yên lặng hơn trong khi đưa vội bàn tay lên che cái lỗ miệng hoác có hơi thở
bay ra.
Thùng Nước Lèo cúi xuống nhiều lần như để kiếm cái gì ở dưới cùng. Ả
do dự một giây, ngó các người chung quanh rồi lặng lẽ ngẩng lên. Mặt mọi
người xanh xao và nhăn nhó. Loiseau bảo giá có khúc đùi thịt muối lúc này
thì ngàn quan hắn cũng mua liền, Mụ vợ ra dấu như để phản đối, rồi bình
tĩnh lại. Hễ nghe nói đến tiêu phí phạm là luôn luôn mụ đau khổ, mụ không
hiểu được những lời nói đùa về chuyện đó.
Ông bá tước bảo:
- Tôi thấy khó chịu trong người, tại sao tôi quên không nghĩ tới việc
mang theo thức ăn chứ?
Ai cũng tự trách mình như vậy.
Cornudet có một bầu đầy rượu rum; hắn mời mọi người; ai nấy lạnh
lùng từ chối. Chỉ có Loiseau chịu uống hai giọt thôi; khi trả bầu, hắn cảm
ơn.
Vậy mà cũng đỡ chứ, nóng người lên mà khuây đói được. Nhờ có rượu
hắn hóa ra vui tính và đề nghị hành động như bọn người ở trên chiếc tàu
nhỏ trong bài hát: là làm thịt hành khách nào mập nhất. Lời nói bóng bảy về
Thùng Nước Lèo đó làm chướng tai những người có giáo dục. Không ai
đáp; chỉ một mình Cornudet mỉm cười. Hai bà Phước đã ngưng tụng kinh,
bàn tay đút sâu vào cổ tay rộng, họ ngồi yên, mắt kiên quyết cuối xuống có
lẽ để dâng nỗi khổ mà Chúa bắt họ phải gánh chịu.
Sau cùng, lúc ba giờ chiều, xe qua một cánh đồng mênh mông bất tận,
xa xa không thấy làng xóm gì cả, Thùng Nước Lèo vội vàng cuối xuống,
kéo dưới băng ra một rổ lớn phủ chiếc khăn trắng.
Trước hết ả lấy trong rổ ra một cái đĩa sứ nhỏ, một cái chén đẹp bằng
bạc rồi một cái bát sành lớn chứa hai con gà giò đã cắt sẵn từng miếng, ướp
trong thịt đông; người ta còn thấy trong rổ nhiều món ngon khác nữa: ba-tê,
trái cây, bánh kẹo, đủ cho ba ngày đi đường mà khỏi phải ăn ở các quán trọ.
Bốn cổ chai ló ra khỏi các gói thức ăn. Ả lấy ra một cánh gà rồi nhỏ nhẹ ăn
với một thứ bánh nhỏ mà ở Normandie người ta gọi là bánh “Nhiếp chính”.
Ai nấy đều trố mắt ngó ả. Rồi mùi thức ăn tỏa khắp, làm cánh mũi
phồng lên, nước miếng chảy ra, mà hàm thì đau thắt lại ở phía dưới tai.
Lòng khinh bỉ của các bà đối với con điếm đó hóa ra dữ tợn, như là họ
muốn giết ả, hoặc liệng ả xuống đường, trong tuyết, liệng cả chén, rổ và các
thức ăn theo ả nữa.
Nhưng Loiseau thì hau háu nhìn cái bát sành thịt gà.
Hắn bảo:
- Khéo quá, bà khéo dự phòng hơn chúng tôi. Có những người chu đáo
không quên một việc gì cả.
Ả ngẩng lên ngó hắn:
- Xin mời ông ... Nhịn từ sáng đến giờ, chịu sao nổi.
Hắn ngả đầu chào:
- Vâng, tôi chịu không nổi nữa, thú thực vậy, bà cho phép thì tôi không
từ chối. Gặp hoàn cảnh nào theo hoàn cảnh nấy, phải không bà?
Rồi liếc xung quanh một lượt, hắn nói thêm:
- Những lúc như lúc này, gặp được người tốt bụng thực quí hóa quá.
Hắn trải một tờ báo ra cho khỏi dơ quần, lấy ra một con dao luôn luôn
bỏ theo trong túi, cắm mũi dao vào một đùi gà còn láng những thịt đông, rồi
lấy răng xé, nhai, vẻ khoan khoái lộ rõ đến nỗi trong xe phát ra tiếng thở dài
não nuột.
Nhưng Thùng Nước Lèo giọng ngọt ngào và khiêm tốn mời hai bà
Phước ăn chung với mình. Cả hai bà đều nhận lời liền, lầm bầm ít lời cảm
ơn rồi chẳng kịp ngẩng mắt lên nữa, bắt đầu ăn rất nhanh. Cornudet cũng
không từ chối lời mời của ả, thế là cả bốn người trải báo lên đùi, làm thành
như một cái bàn ăn vậy.
Miệng mở ra, khép lại liên tiếp, nuốt, nhai, ngốn một cách dữ tợn. Ngồi
trong góc, Loiseau làm việc rất hăng, khuyên nhỏ mụ vợ nên bắt chước
mình. Mụ chống cự một lúc lâu, rồi sau khi thấy ruột đã thắt lại, mụ chịu
thua. Lúc đó người chồng mới vui vẻ hỏi “bà bạn đồng hành nhã nhặn của
họ” cho phép hắn được tặng vợ một miếng nhỏ không.
Ả mỉm cười chìa cái bát sành ra:
- Dạ được xin ông cứ tự nhiên.
Khi mở chai rượu vang thứ nhất, người ta hơi lúng túng: chỉ có mỗi một
cái chén. Đành chùi qua nó đi rồi chuyền tay nhau vậy. Chỉ có Cornudet, có
lẽ là muốn lịch sự với ả, đặt môi vào cái chỗ còn ướt môi của ả.
Thấy chung quanh mình người ta ăn uống, mùi thức ăn tỏa ra ngào
ngạt, ông bà bá tước De Bréville và ông bà Carré-Lamadon, chịu không nổi
[10]
các cực hình ghê gớm mà người ta gọi là cực hình Tantale đó
.
Thình lình người vợ trẻ của nhà công nghiệp thở dài làm cho mọi người
quay lại; mụ ta trắng nhợt như tuyết, mắt nhắm lại, đầu cuối xuống; xỉu rồi.
Ông chồng hoảng hốt cầu cứu mọi người. Ai nấy luýnh quính, chỉ có bà
phước già là đỡ đầu mụ ta lên, dí vào môi chiếc chén bạc của Thùng Nước
Lèo, cho uống vài giọt rượu. Thiếu phụ kiều diễm đó cựa cậy, mở mắt ra,
mỉm cười, tuyên bố bằng một giọng sắp chết rằng đã thấy dễ chịu lắm.
Nhưng để khỏi xỉu một lần nữa, bà Phước buộc mụ uống đầy một ly rượu
vang và bảo:
- Tại đói đấy chứ có gì đâu.
Lúc đó Thùng Nước Lèo thẹn thò, lúng túng, nhìn bốn hành khách nhịn
đói kia, lắp bắp:
- Trời ơi! Tôi đâu dám; nhưng nếu các ông các bà không chê ...
Ả ngưng bặt, sợ xúc phạm họ. Loiseau nói vào:
- Khéo khỉ lắm! Trong những trường hợp như vầy, đều là anh em với
nhau cả, phải giúp đỡ lẫn nhau chứ. Thôi đi các bà, đừng làm khách nữa,
nhận đi mà. Đêm nay chắc gì đã có nhà để trú chân. Xe mà chạy cái điệu
này thì sợ trưa mai vẫn chưa tới Tôtes.
Người ta còn do dự, không ai dám lãnh cái trách nhiệm “vâng”.
Nhưng ông bá tước giải quyết ngay vấn đề. Ông quay lại ngó cô ả mập
và thẹn thò nọ, rồi giọng rất quí phái, ông bảo:
- Chúng tôi xin nhận lời, cảm ơn bà.
Chỉ có bước đầu là khó khăn. Đã liều rồi thì người ta cứ phăng phăng
tới, gần hết rổ thức ăn. Chỉ còn một cái ba-tê gan, một cái ba-tê sơn ca, một
miếng lưỡi hun khói, những trái lê Crassane, một ổ bánh ngọt thơm Pont
l'Évêque, những chiếc bánh bông lan, một chén đầy dưa chuột và hành
ngâm dấm, vì ả ưa đồ sống như mọi người đàn bà khác.
*
Không lẽ ăn của ả mà không nói chuyện với ả. Cho nên phải chuyện
chớ, mới đầu còn giữ kẽ, sau thấy ả biết điều, lễ phép, người ta hóa tự nhiên
hơn. Bà De Bréville và mụ Carré-Lamadon, rất lịch thiệp, tỏ vẻ lễ nhượng
một cách nhã nhặn. Nhất là bà bá tước có cái thái độ hạ cố dễ thương của
những bà rất quí phái mà không có sự tiếp xúc nào có thể làm hoen ố được,
rõ ra con người lịch sự. Còn cái mụ cao lớn Loiseau tâm hồn cục cằn, vẫn
ương ngạnh, nói thì ít mà ăn thì nhiều.
Tất nhiên người ta nói về chiến tranh. Người ta kể những chuyện kinh
khủng của tụi Phổ, những hành động anh hùng của Pháp, và bọn người chạy
trốn này đều khâm phục sự can đảm của những người ở lại. Rồi tới những
chuyện tư, và Thùng Nước Lèo thành thực cảm động – bọn gái điếm khi tả
những cơn giận dữ tự nhiên của mình, thường có giọng hăng hái như vậy –
kể những nguyên do bắt ả phải rời Rouen:
- Mới đầu em tưởng có thể ở lại được. Nhà có đầy thức ăn. Thà chịu
nuôi mấy thằng lính còn hơn là bỏ xứ mà không biết đi đâu. Nhưng khi em
thấy tụi Phổ đó thì em chịu không nổi nữa! Chúng làm cho em dóa lên; và
em đã tủi nhục khóc suốt ngày. Em mà là thân nam nhi thì phải biết! Đứng
ở cửa sổ em ngó chúng và chị ở của em ghì tay em lại cho em khỏi liệng đồ
đạc vào đầu vào cổ chúng. Rồi có đứa lại ở nhà em; em nhảy lại bóp cổ đứa
thứ nhất. Bóp cổ chúng cũng không khó gì hơn bóp cổ những kẻ khác! Và
nếu không có một đứa nắm tóc em kéo lại thì em đã bóp chết thằng đó rồi.
Rồi sau em phải trốn đi. Gặp được cơ hội, em thoát thân liền nên mới có
ngày hôm nay.
Người ta khen ả lắm. Người ta mến ả, có ai đâu mà gan như ả. Cordunet
vừa nghe vừa mỉm cười tán thưởng, đại lượng như một sứ đồ, một linh mục
ca tụng Chúa vậy, vì tụi dân chủ râu dài này nắm độc quyền tôn giáo. Rồi
tới phiên hắn thuyết bằng một giọng khoa trương học trong những tờ bố cáo
dán đầy tường; cuối cùng là một đoạn hùng hồn đả kích kịch liệt “tên bợm
[11]
Badinguet”
.
Thùng Nước Lèo tức thì nổi giận vì ả vào phe Bonaparte. Đỏ gay như
trái anh đào, ả bất bình, lắp bắp:
- Để ...
Nguyên tác: Boule de Suif
Tác giả: Guy de Maupassant
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
Tạo eBook: Goldfish
Ngày hoàn thành: 16.11.2013
TVE-4u
MỤC LỤC
Guy de Maupassant
Thùng nước lèo
GUY DE MAUPASSANT
Độc giả ít ai còn lạ với Guy de Maupassant (1850-1893) nên chúng tôi
không cần phải giới thiệu nhiều. Ông với Honoré Balzac (1799-1850) là hai
tiểu thuyết gia Pháp ở thế kỉ trước được Âu, Mĩ, mà có lẽ cả thế giới khâm
phục nhất.
[1]
Guy de Maupassant
Anatole France bảo “nghệ thuật viết truyện của ông hoàn toàn: mạnh
mẽ, uyển chuyển mà cân xứng”. Léon Tolstoi khen ông là “đã đạt được
những chỗ thâm áo yên lặng của con người”. Còn những tiểu thuyết gia
Anh như Joseph Conrad và William Somerset Maugham đều nhận rằng “tài
kể chuyện của ông thì không ai bằng”; nhất là Maugham coi ông như bậc
thầy của mình, chịu phục rằng nhiều truyện ngắn của ông, không dư mà
cũng không thiếu một chi tiết, đem kể ra thì bất kì ai nghe cũng phải mê.
Tác phẩm của ông gồm non hai chục cuốn vừa truyện ngắn, truyện dài
(không kể một tập thơ). Nhiều nhà phê bình đồng ý rằng truyện dài hay nhất
của ông là Une Vie (Một đời sống); còn truyện ngắn xuất sắc nhất là Boule
[2]
de Suif mà chúng tôi dịch là Thùng Nước Lèo. Chính truyện ngắn này đã
được nhà xuất bản Seghers lựa trong tập Les Vingt meilleures nouvelle
française (1956) và nhà Pocket Library trích và ca tụng trong tập: The great
short stories of De Maupassant (1955).
Trong khoảng bốn chục trang, tác giả kể cho ta nghe một bi hài kịch thời
chiến tranh Pháp – Phổ (1870). Nhân vật gần đủ các giới trong xã hội Pháp
thời đó: giới quí phái, giới con buôn trọc phú, giới cách mạng, giới cần
lao… nhân vật chính là một gái điếm, mà hạng người còn có liêm sỉ giữ
được chút thiên lương lại chính là ả gái điếm đó chứ không phải là bọn
thượng lưu như ta tưởng.
Ông không giảng luân lí, không dựng một triết thuyết, không phân tích
tâm lí, cơ hồ như cũng không có thắc mắc nào cả, chỉ kể chuyện một cách
khách quan, không thương cũng không ghét, mà rất có nghệ thuật, tình tiết
xảy ra tự nhiên, đoạn trước gợi ra đoạn sau, đoạn sau giảng thêm đoạn
trước, thành thử câu chuyện rất nhất trí, mạnh mẽ, đầy đủ mà hấp dẫn, đọc
không thấy chán. Đọc xong ai cũng thấy chua chát và có cảm tưởng rằng
tác giả nhìn xã hội mắt một cặp mắt tinh quái, ngạo đời, nhưng không tàn
nhẫn.
Riêng chúng tôi, chúng tôi thấy có vài nét hơi đậm, mạnh và bén thật,
nhưng kém phần tế nhị; có lẽ đó là một tật chung của tuổi trẻ vì ông viết
chuyện đó hồi mới ngoài hai mươi. Những tác phẩm hồi sau giọng đằm khi
đã từng trải nhiều, lòng trắc ẩn của ông mới hiện rõ, như trong truyện dài
Une Vie chẳng hạn.
Dù sao, văn mỗi tuổi cũng có vẻ đẹp riêng của nó, và Thùng Nước Lèo
vẫn đáng là “một trong những bi kịch hay nhất của hậu bán thế kỉ
[3]
trước” .
THÙNG NƯỚC LÈO
[4]
BOULE DE SUIF
Luôn mấy ngày liền, những mảnh tàn quân đã đi qua châu thành.
Không còn phải là một bộ đội nữa mà chỉ là một bầy ô hợp tán loạn. Râu thì
dài và bẩn, quân phục thì rách rưới, họ uể oải tiến, chẳng cờ xí, chẳng kỷ
luật gì cả. Hết thảy đều có vẻ mệt đừ, không suy nghĩ, quyết định được gì
nữa, chỉ do thói quen mà bước, chứ hễ dừng lại là té quị liền vì kiệt sức.
Nhiều nhất là bọn bị động viên, hạng người vốn hiếu hòa, yên nhiên hưởng
lợi tức đó mang không nổi cây súng; rồi tới bọn dân quân nhỏ bé, nhanh
nhẹn, dễ hoảng hốt mà cũng dễ hăng tiết, sẵn sàng chiến đấu mà cũng sẵn
sàng đào tẩu; xen vào những bọn đó có vài tên lính chánh qui, quần cụt đỏ
đã mệt đừ, còn sót lại sau một trận lớn; một số lính pháo thủ ủ rủ sắp hàng
với những bộ binh hỗn tạp đó; và thỉnh thoảng người ta thấy cái nón bóng
loáng của một kị binh nặng nề bước mà theo không kịp bọn phóng viên
nhanh nhẹn.
Tới phiên những đoàn nghĩa dũng quân đi ngang qua, tên thì rất oai
hùng: “Đội trả thù Chiến bại – Đội Công dân của Nhà mồ - Đội Chia phần
chết”, mà vẻ mặt thì y như tụi ăn cướp.
Chủ soái của họ, xưa kia buôn nỉ hay buôn lúa, bán mỡ bò hay bán xà
bong, do hoàn cảnh mà thành chiến sĩ, nhờ có nhiều tiền hay có bộ râu mép
dài mà được phong làm sĩ quan, mình đeo đầy khí giới, bận đồ nỉ, gắn lon,
bàn cãi oang oang về những trận đồ, phách lối khoe khoang rằng chỉ có
mình là đưa vai ra để chống đỡ nước Pháp hấp hối; nhưng đôi khi họ sợ
ngay những lính của họ, bọn đầu trộm đuôi cướp, thường can đảm ghê gớm,
phá phách và trụy lạc.
Tụi Phổ sắp vô thành Rouen, người ta bảo vậy.
Đội dân quân, hai tháng nay, thận trọng dò xét trong những cánh rừng
bên cạnh, có khi bắn lầm vào lính gác của mình, và mới nghe thấy tiếng
động của một con thỏ con ở trong bụi là đã lắp đạn sẵn sàng chiến đấu rồi,
bây giờ cũng đã giải tán, ai về nhà nấy. Khí giới của họ, quân phục của họ,
tất cả những khí cụ sát nhân của họ trước kia làm cho các cây trụ trên quốc
lộ trong một khu rộng ba dặm ở chung quanh phải bở vía, bỗng biến đi đâu
mất hết.
Những người lính Pháp cuối cùng mới qua con sông Seine để theo
đường Saint-Sever, Bourg-Achard mà tới Pont-Audemer, và ở cuối đoàn,
viên tướng tuyệt vọng, vô phương mưu tính cái gì được với bọn tàn quân
rời rạc đó, đành bước theo họ, giữa hai sĩ quan hầu cận. Vì chính ông cũng
ngơ ngác trong cuộc tan rã lớn lao của một dân tộc quen thắng trận mà rồi
thua một cách tai hại mặc dầu khét tiếng hùng dũng.
Rồi thì một không khí trầm lặng, chờ đợi, hoảng hốt, bao phủ khắp châu
[5]
thành. Nhiều ông trọc phú buôn bán riết rồi hóa ra bụng bự, mất cả khí
lực y như một tụi hoạn, lo lắng run rẩy đợi kẻ thắng tới, chỉ sợ chúng cho
những cây tiêm nướng thịt và những con dao phay là khí giới thì có mà bỏ
mạng với chúng.
Đời sống như ngưng lại; tiệm thì đóng cửa, mà đường phố thì không có
tiếng người. Thỉnh thoảng một thường dân thấy cảnh tĩnh mịch đó đâm
hoảng, nép vào chân tường mà chạy.
Đợi chỉ thêm lo, nên người ta mong kẻ thù tới phắt đi cho rồi.
*
Buổi chiều sau cái ngày quân Pháp rút đi, vài tên kị binh Phổ, không
biết ở xó nào chui ra, vội vã băng qua châu thành. Rồi một lát sau một đám
đen từ dốc Sainte-Catherine tiến xuống trong khi hai đợt sóng xâm lăng
xuất hiện trên những con đường Darnetal và Boisguillaume. Cùng một lúc,
tiền quân của ba đội đó hợp nhau lại ở Thị Sảnh, và do tất cả những đường
phố chung quanh, quân Đức ập tới, trải ra trên đường, bước chân gõ nhịp
nhàng vang động.
Trong khi những hiệu lệnh hô lớn bằng một giọng lạ tai, ồ ồ dội lên
giữa hai dãy nhà như bỏ hoang, thì sau những cánh cửa sổ khép, có những
cặp mắt rình ngó bọn người thắng trận, bọn người do “quyền chiến tranh”
mà được làm chủ châu thành, chủ tài sản và sinh mạng. Ở trong căn phòng
tối tăm vì đóng kín, dân chúng hoảng sợ như gặp thiên tai, những cuộc biến
chuyển tàn hại của trái đất mà kẻ nào khôn lanh, mạnh mẽ tới mấy cũng
đành thúc thủ. Vì mỗi lần mà trật tự bị đảo lộn làm mất sự an toàn, mà luật
lệ của loài người và vũ trụ không còn che chở được cái gì nữa, mà mọi sự
đều bị một sức tàn bạo vô ý thức chi phối, thì cái cảm giác đó lại hiện lên.
Một cuộc động đất đè bẹp cả một dân tộc dưới những ngôi nhà sụp đổ; một
trận lụt cuốn thây những người nông dân với thây những con bò hay những
cây xà nhà bức lìa nóc, hoặc một đội quân thắng trận tàn sát những kẻ dám
chống cự lại, lùa bọn tù binh đi, rồi nhân danh lưỡi kiếm mà cướp bóc, và
cảm ơn một vị Thần nào đó bằng tiếng đại bác; những cái đó đều là những
tai ách khủng khiếp làm cho người ta chưng hửng, hết tin ở lẽ công bình
của Thượng đế, hết tin ở sự che chở của Trời và ở lẽ phải của loài người
như trong sách thường dạy.
Kế đó những toán người đi gõ cửa từng nhà và biến mất vào trong nhà.
Sau khi chiếm đất rồi tới lúc đóng quân. Bổn phận của kẻ thua là phải tỏ ra
ân cần với kẻ thắng.
Được ít lâu, sự hoảng sợ lúc đầu đã qua, sự yên tĩnh trở lại. Trong nhiều
gia đình, sĩ quan Phổ ăn chung một bàn với chủ nhà. Vài kẻ cũng có giáo
dục, tỏ vẻ nhã nhặn mà thương hại cho nước Pháp và bảo rằng không muốn
dự cái chiến tranh này, nó tởm lắm. Người ta mang ơn họ đã có thiện cảm
với mình, vả lại, biết đâu chừng, sau này chẳng có lúc cần sự che chở của
họ. Vị nể họ thì có thể xin bớt được vài miệng phải nuôi. Đã hoàn toàn ở
trong tay họ rồi thì làm mất lòng họ làm chi? Hành động như vậy không
phải là can đảm mà là táo bạo – Mà các ông trọc phú ở Rouen không còn
cái tật táo bạo như hồi xưa, hồi châu thành đó rạng danh vì những cuộc
chống cự anh dũng nữa – Sau cùng người ta tự nhủ rằng – và đây là cái lý
do tối thượng người ta rút được trong phép lịch sự của Pháp – miễn là ra
ngoài đường đừng tỏ ra thân mật với lính ngoại quốc, còn ở trong nhà thì có
thể lễ phép với họ được. Ra ngoài, thì là người lạ, mà ở nhà thì cứ vui vẻ
chuyện trò; và người Đức mỗi buổi tối lại ngồi sưởi nán thêm một lúc ở bên
lò sưởi chung.
Đến ngay châu thành cũng lần lần có vẻ bình thường trở lại. Người
Pháp vẫn chưa ra đường nhưng lính Phổ thì lúc nhúc ngoài phố. Với lại,
bọn sĩ quan khinh kị bận đồ xanh, tuy ngạo nghễ kéo lê thanh gươm trên
mặt đường, nhưng đối với bọn dân chất phác, coi vẻ cũng không khinh họ
gì quá lắm, không khó chịu gì hơn bọn sĩ quan truy kích mà năm trước,
từng giải khát ở những quán cà phê này.
Nhưng trong không khí vẫn có cái gì, một cái gì tế nhị và bí mật, một
không khí lạ, chịu không nổi, như có một mùi gì nó lan ra, mùi xâm lăng.
Nó đầy trong các tư gia, trong các công trường, làm cho thức ăn mất vị và
người ta có cảm tưởng đi du lịch ở đâu xa lắm, tại những bộ lạc dã man và
nguy hiểm.
Tụi thắng trận đòi tiền, rất nhiều tiền. Dân châu thành luôn luôn phải
trả; với lại người ta giàu có mà. Nhưng một thương gia càng giàu có, thì lại
càng đau khổ vì phải hi sinh của cải khi thấy đồng tiền kiếm ra được vào tay
kẻ khác mất.
Tuy nhiên theo dòng sông đi xuôi xuống phía dưới châu thành độ vài ba
dặm, về phía Croisset, Dieppedalle hoặc Biessart, những người chèo thuyền
hay đánh cá thường kéo lên được ở đáy sông xác một tên Đức bận quân
phục; đã trương ra, bị đâm hay đập, liệng đá bể đầu hay từ trên cầu cao xô
xuống dòng nước. Bùn sông vùi lấp những cuộc trả thù tối tăm, man rợ, âm
thầm đó, nó nguy hiểm hơn những cuộc chiến đấu giữa thanh thiên bạch
nhật mà lại không có tiếng vang của danh vọng.
Vì luôn luôn có những người Đại đởm căm thù kẻ ngoại quốc mà sẵn
sàng chết cho một lí tưởng.
Sau cùng, thấy bọn xâm lăng mặc dầu bắt châu thành phải phục tòng
một kỉ luật sắt, nhưng không có những hành động ghê tởm mà người ta
phao lên trong cuộc tiến binh đắc thắng của họ, nên dân chúng bạo dạn lên
và bọn thương gia lại thấy cần phải buôn bán, không thể ngồi không được.
Vài người có những mối lợi lớn mắc kẹt ở Havre còn do quân đội Pháp
chiếm, và họ muốn đi theo đường bộ tới Dieppe rồi xuống thuyền ra hải
cảng đó.
Người ta làm quen với sĩ quan Đức, vận động xin viên tướng tổng tư
lệnh một giấy phép xuất hành.
Một chiếc xe lớn bốn ngựa đã được giữ trước cho cuộc hành trình đó,
mười người đã ghi tên ở nhà chủ xe, và người ta định sáng thứ ba, khởi
hành khi còn tối đất để đi cho dân chúng khỏi bu lại coi.
*
Từ mấy bữa nay, đất đóng giá, cứng ngắc, và vào khoảng ba giờ chiều
hôm thứ hai, những đám mây đen từ phương Bắc đùn về rồi tuyết đổ liên
tiếp suốt buổi tối và ban đêm.
Bốn giờ rưỡi sáng, hành khách họp nhau ở sân khách sạn Hôtel de
Normandie để lên xe.
Họ còn ngái ngủ, quấn mền mà vẫn rét run. Trong bóng tối người ta
không thấy rõ mặt nhau; người nào cũng bận những bộ áo lạnh dày cộm và
nặng nề, coi y như là những ông mục sư bụng bự lượt bượt trong bộ áo thầy
tu vậy. Nhưng có hai người nhận được nhau, rồi một người thứ ba tiến lại,
họ trò chuyện với nhau.
Một người nói:
- Tôi dắt nhà tôi theo.
- Tôi cũng vậy.
- Mà tôi cũng thế.
Người thứ nhất nói thêm:
- Chúng tôi sẽ không trở về Rouen nữa và nếu tụi Phổ tiến lại Havre thì
chúng tôi sẽ qua Anh.
Khí chất giống nhau nên dự tính của họ cũng giống nhau.
Nhưng sao vẫn chưa thắng xe kìa? Một ngọn đèn nhỏ - do một tên giữ
ngựa cầm – thỉnh thoảng ở trong một cái cửa tối om hiện ra rồi lại biến
ngay vào trong một cái cửa khác. Ở phía sau nhà có tiếng chân ngựa dậm
đất, nhưng nghe không vang vì đất phủ rơm, rồi có tiếng đàn ông nói với
ngựa và chửi thề. Tiếng lục lạc leng keng báo rằng người ta lấy bộ cương
ra, rồi tiếng đó rung lên, trong trẻo, đều đều, nhịp nhàng theo bước chân
ngựa, thỉnh thoảng ngưng một chút rồi thình lình khua động trở lại, tiếp
theo là tiếng lục đục của những móng sắt dậm trên mặt đất.
*
Đột nhiên cửa khép lại. Mọi tiếng ngưng hẳn. Bọn trọc phú lạnh cóng,
cứng ngắc, không nói năng gì cả.
Một bức màn tuyết trắng bất tận, liên tục rớt xuống đất, lấp lánh; mọi
vật đều mất hình, phủ một lớp bụi như bọt nước đá; và trong cảnh tĩnh mịch
của thành phố yên lặng, bị vùi dưới mùa đông, người ta chỉ nghe thấy tiếng
sột soạt mơ hồ, chập chờn, không có tên để gọi, của tuyết rơi; nó là một
cảm giác hơn là tiếng động, nó là sự xen trộn của những vật rất nhỏ và nhẹ
đầy cả không trung, khắp cả mặt đất.
Người đàn ông mang cây đèn hiện ra, tay cầm đầu dây kéo một con
ngựa; con vật buồn rầu miễn cưỡng bước. Người đó ghìm con ngựa ở sát
càng xe, cột lại, loay hoay một lúc lâu ở chung quanh để thắng cho được
chắc, vì một tay mắc cầm đèn rồi, chỉ có một tay là rảnh. Khi người đó quay
lại kiếm con ngựa thứ nhì thì nhận thấy rằng hành khách đứng im, tuyết đầy
người, bèn bảo: “Tại sao không lên xe mà ngồi, ít nhất cũng khỏi phải hứng
tuyết.”
Có lẽ họ không hề nghĩ tới, nay có người nhắc, họ mới ùa lên xe. Ba
người đàn ông để cho vợ ngồi trong cùng rồi leo lên theo; những bóng tờ
mờ tùm hụp khác lẳng lặng lên chiếm những chỗ còn lại.
Sàn xe phủ đầy rơm, chân họ lún xuống. Những bà ngồi ở trong có đem
theo lồng ấp nhỏ bằng đồng, đốt thứ than hóa học lên rồi thì thầm kể những
tiện lợi của thứ lồng ấp đó cho nhau nghe, lặp lại những điều mà ai nấy biết
thừa rồi.
Sau cùng xe đã thắng xong sáu con ngựa chứ không phải bốn, vì phải
kéo nặng. Một tiếng ở ngoài hỏi vô: “Mọi người lên xe cả rồi chứ?” Có
tiếng ở trong đáp: “Rồi”. Thế là khởi hành.
*
Xe tiến chậm, chậm quá, từng bước một. Bánh xe lún xuống tuyết;
thùng xe rắc rắc, rên rỉ; ngựa trượt chân thở phì phì; và chiếc roi lớn của
người đánh xe, kêu đôm đốp hoài, bay tứ phía, cuốn lại rồi bung ra như một
con rắn tong teo, thình lình quất vào một cái mông ngựa tròn, làm cho con
vật phải lấy gân mà gắng sức.
Ánh sáng lên lần lần mà không hay. Tuyết không đổ nữa. Một hành
khách, dân Rouen chính cống, so sánh tuyết đổ với một trận mưa bông gòn.
Một ánh sáng đục lọc qua những đám mây lớn, đen và nặng, làm cho cảnh
đồng quê trắng xóa càng thêm phần rực rỡ; đây đó hiện lên một hàng cây
lớn đóng giá hoặc một mái nhà tranh phủ tuyết.
Trong ánh sáng ảm đạm của bình minh, hành khách trên xe nhìn nhau.
Ở trong cùng, chiếm những chỗ tốt nhất, vợ chồng Loiseau, buôn rượu
ở đường Grand-Pont, đương thiêm thiếp ngủ.
Trước kia làm tài phú cho một nhà buôn, nhà buôn này phá sản, Loiseau
mua lại cửa tiệm mà làm giàu. Hắn bán rất rẻ những thứ rượu rất tồi cho các
tiệm bán lẻ ở nhà quê và trong giới quen biết thân hay sơ, người ta đều coi
hắn là một tên bợm quỷ quyệt, một dân Normand chính cống, mưu mô, vui
tính.
Hắn nổi danh xoáy đến nỗi một buổi tối nọ ở quận, ông Tournel, một
nhà đặt ngụ ngôn và vè có giọng cay độc và tế nhị, được nhiều người trong
miền biết tiếng, khi thấy các bà các cô buồn ngủ cả, mới đề nghị chơi trò
[6]
“Loiseau bay” rồi danh từ đó bay khắp các phòng khách ở quận, lan ra
tới tỉnh, làm cho dân trong tỉnh cười sái hàm suốt một tháng trời.
Loiseau còn có tài khôi hài, thanh nhã và tục tĩu, đủ giọng, và nhắc đến
tên hắn thì ai cũng phải bảo:
- Thằng cha đó thật tức cười!
Nhỏ con mà bụng tròn như trái banh, mặt đỏ, râu mép lốm đốm hoa
râm.
Mụ vợ cao lớn, cương quyết, to tiếng, quyết định mau, trông nom sổ
sách tiền nong trong cửa hàng, nhờ mụ mà cửa hàng hoạt động và vui vẻ.
Bên cạnh cặp đó, là lão Carré-Lamadon, đàng hoàng hơn, ở trong một giới
sang trọng hơn, được trọng vọng, có địa vị trong nghề buôn bông, làm chủ
ba hãng dệt, được thưởng Tứ đẳng Bắc đẩu bội tinh và là nghị viên quận
[7]
hạt. Trong suốt thời Empir . Lão cầm đầu phe đối lập có thiện chí, đả kích
bằng những khí giới lễ độ - như lão nói – mục đích duy nhất là để cho chính
quyền có muốn mua chuộc hắn thì phải trả một giá đắt. Mụ Carré-Lamadon
trẻ hơn ông chồng nhiều, là niềm an ủi cho những sĩ quan con nhà sang
trọng phải đổi đến đóng ở Rouen.
Đối diện với chồng, mụ ta nhỏ xíu rất dễ thương, rất xinh xắn, thu hình
trong bộ áo cầu, não nuột ngó phía trong thảm hại của chiếc xe.
Ngồi bên cạnh mụ là ông bà bá tước Hubert de Bréville một trong số
những gia đình quí phái kì cựu nhất ở Normandie. Ông bá tước già, rất sang
trọng, tướng mạo vốn đã hơi giống vua Henri IV lại được ông rán tô chuốt
cho càng giống hệt. Theo một truyền thuyết vẻ vang cho gia đình ông thì
vua Henri IV hồi xưa có làm cho một bà trong giòng Bréville mang bầu rồi
ông chồng của bà đó nhờ vậy được phong bá tước, làm thống đốc một tỉnh.
Bá tước Hubert là bạn đồng viện với lão Carré-Lamadon, thay mặt cho
đảng Orléan ở trong tỉnh. Tại sao mà ông lại cưới con gái một chủ tàu nhỏ ở
Nanter, thì tới bây giờ vẫn là chuyện bí mật. Nhưng bà bá tước có vẻ sang
trọng tiếp khách rất khéo, có kẻ đồn rằng bà được một người con của vua
[8]
Louis-Phillipe
để mắt tới, thành thử tất cả giới quí phái trong miền rất
niềm nở với bà mà phòng khách của bà nổi tiếng nhất tỉnh, khó khăn mới
được vô cái nơi độc nhất mà người ta còn giữ được thái độ phong nhã thời
cổ đó.
Gia tài của gia đình Bréville, gồm toàn bất động sản, theo thiên hạ kháo
nhau, lợi tức được tới năm trăm ngàn đồng mỗi năm.
Sáu người đó, ngồi ở phía trong cùng chiếc xe. Đó là khu của giới có lợi
tức, của bọn người lương thiện, có quyền hành, theo tôn giáo và sống có qui
tắc.
Do một sự ngẫu nhiên kỳ dị, đàn bà ngồi chung cả một ghế; và bên
cạnh bà bá tước có hai bà Phước đương lần tràng hạt lầm rầm tụng kinh Lạy
cha và kinh Kính mừng. Một bà Phước đã già, mặt rỗ như tổ ong. Bà kia rất
nhỏ yếu, mặt mũi xinh mà bệnh hoạn, ngực lép như người ho lao bị đức tin
tàn phá đục rỗng phổi, thứ đức tin nó tạo nên những kẻ cảm tử vì đạo.
Trước mặt hai bà Phước đó là một người đàn ông và một người đàn bà
mà mọi người đều chăm chú ngó. Người đàn ông là Cornudet, biệt danh
“dân chủ” mà ai cũng biết hắn là ông kẹ của hạng tôn tưởng. Từ hai chục
năm nay, hắn nhúng bộ râu đỏ và rậm vào những cốc rượu tại khắp tiệm cà
phê dân chủ. Hắn cùng với anh em và bạn bè đã ăn hết cái gia sản khá lớn
của cha hắn bán mứt để lại, và hắn nóng lòng đợi Chính phủ Cộng hòa
thành lập để nhận một địa vị xứng đáng cho bỏ cái công hắn uống bao nhiêu
[9]
là rượu dân chủ rồi. Ngày mùng bốn tháng chín , có lẽ do một trò khôi
hài, hắn tưởng được chức chủ quận, nhưng khi hắn tới nhậm chức, thì chỉ
có những tùy phái là làm chủ phòng giấy, họ lại không chịu nhìn nhận hắn
và hắn đành rút lui. Thực ra thì hắn tốt bụng, không làm hại ai, thích giúp
đỡ người khác, hắn tổ chức sự cự địch một cách hăng hái không ai bì. Hắn
sai đào hầm trong các cánh đồng, hạ những cây nhỏ trong các khu rừng bên
cạnh, đặt bẫy trên khắp các nẻo đường và khi quân thù sắp tới, khoái chí về
những công trình dự bị của mình, hắn vội vàng rút về châu thành. Bây giờ
hắn nghĩ nên lại Havre để giúp ích cho quốc gia được nhiều hơn, vì ở đó
sắp có những cuộc phòng bị cần thiết nữa.
Còn người đàn bà, một ả trong bọn gái điếm, cũng nổi tiếng, vì còn trẻ
mà đã mập, cho nên người ta gọi ả là Thùng Nước Lèo. Nhỏ mà tròn vo,
toàn những mỡ, ngón tay húp lên, thắt eo ở những đốt, y như chuỗi dồi
ngắn ngủn vậy, da láng bóng, căng thẳng, ngực vĩ đại nhô ra dưới lớp áo;
vậy mà coi ả vẫn gợi tình, lắm kẻ đeo đuổi ra phết, vì vẻ tươi tắn của ả làm
cho người ta ưa nhìn. Mặt ả như một trái táo đỏ, một nụ mẫu đơn hàm tiếu;
và trong cái mặt đó, phía trên, đính một cặp mắt đen nhánh, đẹp lạ, thăm
thẳm dưới hàng lông mi dài; phía dưới nở một cái miệng có duyên, nhỏ, cặp
môi ươn ướt sẵn sàng đón những cái hôn và hàm răng nhỏ nhắn, trắng
bóng.
Người ta bảo ả còn có nhiều đức rất quí nữa.
Khi các bà trong giới lương thiện nhận ra được ả, thì tiếng thì thầm lan
đi, người ta nói nhỏ với nhau những tiếng “điếm” “nhục nhã trơ trẽn”, tuy là
thì thầm mà lớn đến nỗi ả phải ngẩng đầu lên. Rồi ả ngó chung quanh, vẻ
khiêu khích bạo dạn làm cho mọi người tức thì im bặt, cúi đầu xuống chỉ
trừ có Loiseau là liếc ả, lòng phấn khởi.
Nhưng rồi ba bà lại tiếp tục truyện trò với nhau; có con điếm đó, họ
bỗng thấy thân mật với nhau hơn lên. Hình như họ nghĩ rằng trước mặt cái
đồ bán trôn vô sỉ đó, hạng có chồng con tử tế như họ phải đoàn kết lại với
nhau; vì ái tính hợp pháp bao giờ cũng khinh bỉ thứ ái tình tự do.
Ba ông cũng vậy, thấy Cornudet thì, vì bản năng bảo tồn mà thân nhau
hơn, nói chuyện với nhau về tiền nong bằng một giọng khinh khi kẻ nghèo.
Bá tước Hubert kể những tai hại do bọn Phổ gây ra, bò thì bị ăn cắp, mùa
màng thì mất mát, ông ra vẻ một ông lớn mười lần triệu phú, bị phá phách
như vậy mà không hề núng, có cùng lắm là khó chịu trong một năm thôi.
Lão Carré-Lamadon, mà kĩ nghệ bông lung lay nhiều, đã gởi sáu trăm ngàn
quan qua Anh, cũng như người ta để dành một trái lê phòng lúc khát vậy.
Còn Loiseau thì đã thu xếp để bán cho Quân nhu cục của Pháp hết số rượu
xấu còn ở trong hầm, thành thử chính phủ thiếu hắn một số tiền vĩ đại mà
lần này đi Havre hắn hy vọng sẽ được lãnh.
Cả ba người đều nháy nhau, thân mật. Tuy giai cấp khác nhau mà cũng
như anh em với nhau nhờ có đồng tiền cùng ở trong cái giới của bọn người
giàu có, bọn người thọc tay vào túi quần lúc lắc những đồng tiền vàng cho
kêu lẻng xẻng mà nghe.
Xe chạy chậm tới nỗi hồi mười giờ sáng vẫn chưa đi được bốn dặm.
Đàn ông phải xuống xe ba lần để leo dốc. Người ta đã bắt đầu lo, vì định ăn
cơm ở Tôtes mà cái điệu này thì không mong gì tới đó trước khi tối trời
được. Ai nấy đều ngó xem có cái quán nào trên đường không khi xe bị lầy
trong một đống tuyết và phải mất hai giờ mới thoát ra được.
Đói quá, trí óc người ta mụ đi, mà không thấy bóng một cái quán tồi,
một cái tiệm rượu nào cả, bọn chủ quán, chủ tiệm đã hoảng hốt tạm dẹp
nghỉ khi hay tin tụi Phổ và tụi lính Pháp chết đói sắp tới.
Bọn đàn ông chạy vô các trại ở bên đường để mua thức ăn, nhưng đến
bánh mì cũng không có, vì dân quê nghi ngại đã giấu hết cả rồi, sợ các ông
lính không có gì ăn, thấy có cái gì là cướp cái đó.
Khoảng một giờ chiều Loiseau kêu rằng kiến bò bụng quá rồi. Ai nấy
cũng ở trong tình trạng của hắn đã từ lâu, và nhu cầu ăn mỗi lúc một tăng đã
làm im bặt câu chuyện. Thỉnh thoảng có người ngáp dài, tức thì người khác
ngáp theo; mỗi người thay phiên nhau, tùy theo tính tình, cách xử thế và địa
vị trong xã hội của mình mà mở miệng ra hoặc kêu răng rắc hoặc kín đáo
yên lặng hơn trong khi đưa vội bàn tay lên che cái lỗ miệng hoác có hơi thở
bay ra.
Thùng Nước Lèo cúi xuống nhiều lần như để kiếm cái gì ở dưới cùng. Ả
do dự một giây, ngó các người chung quanh rồi lặng lẽ ngẩng lên. Mặt mọi
người xanh xao và nhăn nhó. Loiseau bảo giá có khúc đùi thịt muối lúc này
thì ngàn quan hắn cũng mua liền, Mụ vợ ra dấu như để phản đối, rồi bình
tĩnh lại. Hễ nghe nói đến tiêu phí phạm là luôn luôn mụ đau khổ, mụ không
hiểu được những lời nói đùa về chuyện đó.
Ông bá tước bảo:
- Tôi thấy khó chịu trong người, tại sao tôi quên không nghĩ tới việc
mang theo thức ăn chứ?
Ai cũng tự trách mình như vậy.
Cornudet có một bầu đầy rượu rum; hắn mời mọi người; ai nấy lạnh
lùng từ chối. Chỉ có Loiseau chịu uống hai giọt thôi; khi trả bầu, hắn cảm
ơn.
Vậy mà cũng đỡ chứ, nóng người lên mà khuây đói được. Nhờ có rượu
hắn hóa ra vui tính và đề nghị hành động như bọn người ở trên chiếc tàu
nhỏ trong bài hát: là làm thịt hành khách nào mập nhất. Lời nói bóng bảy về
Thùng Nước Lèo đó làm chướng tai những người có giáo dục. Không ai
đáp; chỉ một mình Cornudet mỉm cười. Hai bà Phước đã ngưng tụng kinh,
bàn tay đút sâu vào cổ tay rộng, họ ngồi yên, mắt kiên quyết cuối xuống có
lẽ để dâng nỗi khổ mà Chúa bắt họ phải gánh chịu.
Sau cùng, lúc ba giờ chiều, xe qua một cánh đồng mênh mông bất tận,
xa xa không thấy làng xóm gì cả, Thùng Nước Lèo vội vàng cuối xuống,
kéo dưới băng ra một rổ lớn phủ chiếc khăn trắng.
Trước hết ả lấy trong rổ ra một cái đĩa sứ nhỏ, một cái chén đẹp bằng
bạc rồi một cái bát sành lớn chứa hai con gà giò đã cắt sẵn từng miếng, ướp
trong thịt đông; người ta còn thấy trong rổ nhiều món ngon khác nữa: ba-tê,
trái cây, bánh kẹo, đủ cho ba ngày đi đường mà khỏi phải ăn ở các quán trọ.
Bốn cổ chai ló ra khỏi các gói thức ăn. Ả lấy ra một cánh gà rồi nhỏ nhẹ ăn
với một thứ bánh nhỏ mà ở Normandie người ta gọi là bánh “Nhiếp chính”.
Ai nấy đều trố mắt ngó ả. Rồi mùi thức ăn tỏa khắp, làm cánh mũi
phồng lên, nước miếng chảy ra, mà hàm thì đau thắt lại ở phía dưới tai.
Lòng khinh bỉ của các bà đối với con điếm đó hóa ra dữ tợn, như là họ
muốn giết ả, hoặc liệng ả xuống đường, trong tuyết, liệng cả chén, rổ và các
thức ăn theo ả nữa.
Nhưng Loiseau thì hau háu nhìn cái bát sành thịt gà.
Hắn bảo:
- Khéo quá, bà khéo dự phòng hơn chúng tôi. Có những người chu đáo
không quên một việc gì cả.
Ả ngẩng lên ngó hắn:
- Xin mời ông ... Nhịn từ sáng đến giờ, chịu sao nổi.
Hắn ngả đầu chào:
- Vâng, tôi chịu không nổi nữa, thú thực vậy, bà cho phép thì tôi không
từ chối. Gặp hoàn cảnh nào theo hoàn cảnh nấy, phải không bà?
Rồi liếc xung quanh một lượt, hắn nói thêm:
- Những lúc như lúc này, gặp được người tốt bụng thực quí hóa quá.
Hắn trải một tờ báo ra cho khỏi dơ quần, lấy ra một con dao luôn luôn
bỏ theo trong túi, cắm mũi dao vào một đùi gà còn láng những thịt đông, rồi
lấy răng xé, nhai, vẻ khoan khoái lộ rõ đến nỗi trong xe phát ra tiếng thở dài
não nuột.
Nhưng Thùng Nước Lèo giọng ngọt ngào và khiêm tốn mời hai bà
Phước ăn chung với mình. Cả hai bà đều nhận lời liền, lầm bầm ít lời cảm
ơn rồi chẳng kịp ngẩng mắt lên nữa, bắt đầu ăn rất nhanh. Cornudet cũng
không từ chối lời mời của ả, thế là cả bốn người trải báo lên đùi, làm thành
như một cái bàn ăn vậy.
Miệng mở ra, khép lại liên tiếp, nuốt, nhai, ngốn một cách dữ tợn. Ngồi
trong góc, Loiseau làm việc rất hăng, khuyên nhỏ mụ vợ nên bắt chước
mình. Mụ chống cự một lúc lâu, rồi sau khi thấy ruột đã thắt lại, mụ chịu
thua. Lúc đó người chồng mới vui vẻ hỏi “bà bạn đồng hành nhã nhặn của
họ” cho phép hắn được tặng vợ một miếng nhỏ không.
Ả mỉm cười chìa cái bát sành ra:
- Dạ được xin ông cứ tự nhiên.
Khi mở chai rượu vang thứ nhất, người ta hơi lúng túng: chỉ có mỗi một
cái chén. Đành chùi qua nó đi rồi chuyền tay nhau vậy. Chỉ có Cornudet, có
lẽ là muốn lịch sự với ả, đặt môi vào cái chỗ còn ướt môi của ả.
Thấy chung quanh mình người ta ăn uống, mùi thức ăn tỏa ra ngào
ngạt, ông bà bá tước De Bréville và ông bà Carré-Lamadon, chịu không nổi
[10]
các cực hình ghê gớm mà người ta gọi là cực hình Tantale đó
.
Thình lình người vợ trẻ của nhà công nghiệp thở dài làm cho mọi người
quay lại; mụ ta trắng nhợt như tuyết, mắt nhắm lại, đầu cuối xuống; xỉu rồi.
Ông chồng hoảng hốt cầu cứu mọi người. Ai nấy luýnh quính, chỉ có bà
phước già là đỡ đầu mụ ta lên, dí vào môi chiếc chén bạc của Thùng Nước
Lèo, cho uống vài giọt rượu. Thiếu phụ kiều diễm đó cựa cậy, mở mắt ra,
mỉm cười, tuyên bố bằng một giọng sắp chết rằng đã thấy dễ chịu lắm.
Nhưng để khỏi xỉu một lần nữa, bà Phước buộc mụ uống đầy một ly rượu
vang và bảo:
- Tại đói đấy chứ có gì đâu.
Lúc đó Thùng Nước Lèo thẹn thò, lúng túng, nhìn bốn hành khách nhịn
đói kia, lắp bắp:
- Trời ơi! Tôi đâu dám; nhưng nếu các ông các bà không chê ...
Ả ngưng bặt, sợ xúc phạm họ. Loiseau nói vào:
- Khéo khỉ lắm! Trong những trường hợp như vầy, đều là anh em với
nhau cả, phải giúp đỡ lẫn nhau chứ. Thôi đi các bà, đừng làm khách nữa,
nhận đi mà. Đêm nay chắc gì đã có nhà để trú chân. Xe mà chạy cái điệu
này thì sợ trưa mai vẫn chưa tới Tôtes.
Người ta còn do dự, không ai dám lãnh cái trách nhiệm “vâng”.
Nhưng ông bá tước giải quyết ngay vấn đề. Ông quay lại ngó cô ả mập
và thẹn thò nọ, rồi giọng rất quí phái, ông bảo:
- Chúng tôi xin nhận lời, cảm ơn bà.
Chỉ có bước đầu là khó khăn. Đã liều rồi thì người ta cứ phăng phăng
tới, gần hết rổ thức ăn. Chỉ còn một cái ba-tê gan, một cái ba-tê sơn ca, một
miếng lưỡi hun khói, những trái lê Crassane, một ổ bánh ngọt thơm Pont
l'Évêque, những chiếc bánh bông lan, một chén đầy dưa chuột và hành
ngâm dấm, vì ả ưa đồ sống như mọi người đàn bà khác.
*
Không lẽ ăn của ả mà không nói chuyện với ả. Cho nên phải chuyện
chớ, mới đầu còn giữ kẽ, sau thấy ả biết điều, lễ phép, người ta hóa tự nhiên
hơn. Bà De Bréville và mụ Carré-Lamadon, rất lịch thiệp, tỏ vẻ lễ nhượng
một cách nhã nhặn. Nhất là bà bá tước có cái thái độ hạ cố dễ thương của
những bà rất quí phái mà không có sự tiếp xúc nào có thể làm hoen ố được,
rõ ra con người lịch sự. Còn cái mụ cao lớn Loiseau tâm hồn cục cằn, vẫn
ương ngạnh, nói thì ít mà ăn thì nhiều.
Tất nhiên người ta nói về chiến tranh. Người ta kể những chuyện kinh
khủng của tụi Phổ, những hành động anh hùng của Pháp, và bọn người chạy
trốn này đều khâm phục sự can đảm của những người ở lại. Rồi tới những
chuyện tư, và Thùng Nước Lèo thành thực cảm động – bọn gái điếm khi tả
những cơn giận dữ tự nhiên của mình, thường có giọng hăng hái như vậy –
kể những nguyên do bắt ả phải rời Rouen:
- Mới đầu em tưởng có thể ở lại được. Nhà có đầy thức ăn. Thà chịu
nuôi mấy thằng lính còn hơn là bỏ xứ mà không biết đi đâu. Nhưng khi em
thấy tụi Phổ đó thì em chịu không nổi nữa! Chúng làm cho em dóa lên; và
em đã tủi nhục khóc suốt ngày. Em mà là thân nam nhi thì phải biết! Đứng
ở cửa sổ em ngó chúng và chị ở của em ghì tay em lại cho em khỏi liệng đồ
đạc vào đầu vào cổ chúng. Rồi có đứa lại ở nhà em; em nhảy lại bóp cổ đứa
thứ nhất. Bóp cổ chúng cũng không khó gì hơn bóp cổ những kẻ khác! Và
nếu không có một đứa nắm tóc em kéo lại thì em đã bóp chết thằng đó rồi.
Rồi sau em phải trốn đi. Gặp được cơ hội, em thoát thân liền nên mới có
ngày hôm nay.
Người ta khen ả lắm. Người ta mến ả, có ai đâu mà gan như ả. Cordunet
vừa nghe vừa mỉm cười tán thưởng, đại lượng như một sứ đồ, một linh mục
ca tụng Chúa vậy, vì tụi dân chủ râu dài này nắm độc quyền tôn giáo. Rồi
tới phiên hắn thuyết bằng một giọng khoa trương học trong những tờ bố cáo
dán đầy tường; cuối cùng là một đoạn hùng hồn đả kích kịch liệt “tên bợm
[11]
Badinguet”
.
Thùng Nước Lèo tức thì nổi giận vì ả vào phe Bonaparte. Đỏ gay như
trái anh đào, ả bất bình, lắp bắp:
- Để ...
 





