Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
nhasachmienphi-nen-giao-duc-cua-nguoi-giau

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:45' 03-05-2024
Dung lượng: 788.6 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:45' 03-05-2024
Dung lượng: 788.6 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
MICHAEL ELLSBERG
NỀN GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI
GIÀU
Bản quyền tiếng Việt © 2013 Công ty Cổ phần Sách Alpha
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
TẠI SAO TRÍ TUỆ THỰC TIỄN
luôn đánh bại trí tuệ hàn lâm?
(Trường đời quan trọng hơn sách vở?)
Người ta rót vào tai bạn rằng nếu học hành chăm chỉ ở trung học, đạt điểm
số cao, vào một trường đại học danh tiếng, có tấm bằng trong tay thì chắc
chắn bạn sẽ thành công trong suốt cuộc đời.
Điều này có thể đúng nếu chúng ta sống cách đây 50 năm. Còn ngày nay,
mọi chuyện đã khác.
Giờ đây, nếu muốn thành công, bạn phải tự trau dồi thêm cho mình các kỹ
năng và tư duy thực tế. Điều này vẫn đúng cho dù bạn có học đại học hay
không.
Cuốn sách này sẽ chỉ dẫn cho bạn cách làm điều đó.
* * *
Trong một buổi phỏng vấn xin việc, một người 37 tuổi học MBA ở Harvard
ngồi đối diện với một thanh niên khoảng 25 tuổi bỏ học giữa chừng đã vài
lần “lỡ hẹn” với tấm bằng đại học chuyên ngành sân khấu và đạo diễn của
Đại học Nam California (USC). Người có bằng MBA mặc vest sang trọng,
đeo cà vạt vàng. Chàng thanh niên hơn 20 tuổi mặc quần jean, áo nỉ chui
đầu, không mặc sơ mi bên trong, râu ria tua tủa, tóc tai bờm xờm không chải
như thể anh ta vừa chui ra khỏi giường và lao thẳng đến buổi phỏng vấn vậy.
Buổi phỏng vấn diễn ra vô cùng nhạt nhẽo. Người phỏng vấn chẳng mảy
may ấn tượng với bảng thành tích học tập của người được phỏng vấn và thấy
anh ta không đủ kinh nghiệm để đem lại giá trị thực cho một công ty mới
thành lập trong bối cảnh thị trường khó khăn như công ty của anh.
Bryan Franklin, từng là một sinh viên chuyên ngành sân khấu bỏ học giữa
chừng quyết định sẽ tuyển dụng một người vào vị trí nhân viên hành chính
và nhập liệu cho mình với mức lương 10 đô-la một giờ thông qua kênh tuyển
dụng Craigslist vài ngày trước đó.
Khi còn theo học đại học, Bryan từng thành lập và điều hành, quản lý phát
triển một công ty thiết kế âm thanh. Tổng cộng có tới hơn 300 phim truyện
được biên tập hoặc lồng tiếng ở studio của anh, trong đó có Gladiator, The
Last Samurai và Arfitificial Intelligence. Bằng nỗ lực tự vươn lên, khởi
nghiệp từ hai bàn tay trắng và chưa bao giờ cần đến sự hỗ trợ từ các nhà đầu
tư, Bryan đã bán công ty của mình vào năm 2000 sau khi Dody Dorn được
đề cử giải Oscar dành cho biên tập viên với bộ phim Memento thực hiện ở
studio này. Nhờ bán công ty mà “tôi mua được một ngôi nhà trên đường
Lombard, San Francisco,” Bryan nói thêm với nụ cười mãn nguyện.
Vào đầu năm 2002, anh điều hành doanh nghiệp thứ ba do chính mình thành
lập và đầu tư vốn. Bryan chia sẻ rằng việc kinh doanh rất phát đạt và cần một
trợ lý, vì thế anh đã đăng quảng cáo tuyển dụng trên Craigslist. “Trong vòng
24 giờ, tôi nhận được 200 phản hồi. Hầu hết các ứng viên đều là cử nhân đại
học, một vài thạc sỹ và nghiên cứu sinh mới vượt qua kỳ thi đầu vào, thậm
chí có cả một số tiến sỹ đã tốt nghiệp và khoảng sáu MBA. Có một MBA tốt
nghiệp Harvard khiến tôi tò mò. Tôi đưa anh ta vào danh sách chốt gồm 10
ứng viên được phỏng vấn.
“Anh ta đến nhà tôi trong bộ đồ công sở chỉn chu. Tôi nói sơ qua về website
mà anh ta sẽ chịu trách nhiệm nhập số liệu với mức lương 10 đô-la một giờ
và thấy anh ta quả thật là “một con gà” về công nghệ Web. Tôi không tin nổi
anh ta đã nhắc đến từ “IPO” và cả “ưu tiên thanh khoản” trong buổi phỏng
vấn.
Khi tôi nói rằng: “Xem nào, tôi đang tìm kiếm người nhập số liệu và chăm
sóc khách hàng. Tôi muốn chắc chắn rằng khi khách hàng gọi đến, họ sẽ cảm
thấy mình là Thượng đế.”
Thì anh ta đáp lại: “Ồ, anh biết đấy, tôi nghĩ cần phải xây dựng chiến lược
xem chúng ta sẽ thúc đẩy những mối quan hệ nào…” Buổi phỏng vấn cứ thế
diễn ra. Có lúc anh ta hùng hồn nói: “Luôn có những con đường và giải pháp
khác nhau để dẫn đến thành công, vì thế một trong những điều tôi sẽ thực
hiện trong tuần đầu tiên đi làm là thiết lập một “ma trận ưu tiên” để chúng ta
cùng tham khảo…” Lúc đó, tôi hình dung trong đầu cảnh tượng anh ta ngồi
hí hoáy vẽ ma trận ưu tiên còn tôi thì phải hùng hục giải quyết tất cả mọi
việc.
“Cuối cùng, tôi đã thuê một phụ nữ Mỹ gốc Phi còn khá trẻ. Cô ấy chỉ học
hết trung học nhưng có tinh thần làm việc nhiệt tình và sở hữu nhiều “trí
thông minh đường phố.” Cô đã hoàn thành xuất sắc công việc của mình suốt
hơn 3 năm qua, được tăng lương vài lần và hiện đang quản lý một nhóm 3
nhân viên dưới quyền.”
Đương nhiên, bạn có thể học được rất nhiều điều thú vị từ trường đại học,
nhưng thực tế, chúng lại chẳng giúp ích gì cho thành công trong sự nghiệp
và tài chính của bạn. Bạn có thể mở rộng tầm hiểu biết, mài giũa các kỹ năng
tư duy phê phán, đưa ra những ý tưởng và quan điểm mới mẻ, đam mê khám
phá những di sản văn hóa hay tìm hiểu trí tuệ của những nhà tư tưởng vĩ đại
nhất hành tinh. Đó đều là những đam mê đáng theo đuổi.
Giả sử, trong một thị trường bất ổn, bạn muốn là Bryan Franklin hơn là vị
thạc sỹ Harvard nọ. Nói cách khác, bạn muốn tối ưu hóa các cơ hội của mình
trong cuộc sống, là nhà tuyển dụng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thay vì
là kẻ xin việc.
Để đạt tới mục tiêu tối đa hóa cơ hội thành công về chuyên môn trong bất kỳ
điều kiện kinh tế nào, bạn cần phải bắt đầu học hỏi những gì?
Đây chính là câu hỏi trọng tâm mà cuốn sách này sẽ trả lời. Tôi sẽ đưa ra lời
giải đáp cụ thể, chi tiết cho câu hỏi này trong hàng trăm trang sách tiếp theo.
Nhưng trước tiên, bạn hãy tìm lời giải cho câu hỏi:
Tại sao ngày hôm đó Bryan không có bằng đại học lại ngồi ở vị trí nhà tuyển
dụng và tại sao người đàn ông có bằng MBA của Harvard lại là người tìm
việc?
Tôi không có thông tin cá nhân nào về người có bằng MBA kia, vì thế tôi chỉ
có thể đưa ra phỏng đoán về cảnh ngộ khó khăn của anh ta. Nhưng tôi lại rất
tường tận câu chuyện của Bryan vì anh ấy là bạn thân của tôi. Tính đến thời
điểm đó, anh ấy đã dành 10 năm ròng để trau dồi những kỹ năng giúp anh
thành công như kinh doanh, marketing, lãnh đạo, quản lý, tài chính và kế
toán từ những trải nghiệm kinh doanh thực tế ở các công ty do chính anh gây
dựng lên bằng nguồn tài chính của mình. Nói cách khác, Bryan đã hướng
đến sự tự giáo dục bên ngoài các lớp học, như một số nhà nghiên cứu gọi là
“trí tuệ thực tiễn” hay còn có tên là “trí tuệ đường phố”, để hoàn thành mọi
thứ trong cuộc sống thật hiệu quả.
Còn người đàn ông học MBA ở Harvard có vẻ đã học và nghiên cứu các tài
liệu về marketing, kinh doanh, quản lý, lãnh đạo, tài chính và kế toán.
Nhưng tôi đoán chủ yếu là những lý thuyết sáo rỗng. Để hoàn thiện chương
trình cơ bản cho học viên, trọng tâm của nền giáo dục này là trí tuệ hàn lâm
để hoàn thành tốt các bài kiểm tra thay vì trí tuệ thực tiễn nhằm giải quyết
các vấn đề thực tế.
Cả hai người đều được giáo dục rất tốt nhưng tôi đoán, nền giáo dục của một
người thiên về lý thuyết với kiến thức sẵn có trong kho của các trường đại
học, cao đẳng, nền giáo dục của người còn lại (đó là nỗ lực tự học hỏi không
giống bất kỳ lớp học chính thức nào) thiên về thực hành. Nền giáo dục của
một người mang tính chất quan liêu, mô phạm và sách vở; người còn lại thu
nhận kiến thức từ những vật lộn trong cuộc sống, những bờ vực của thất bại
cá nhân. Một người được giáo dục trong ngôi trường danh giá, người còn lại
được tôi luyện trong trường đời. Một người tập trung vào tri thức sách vở,
người kia quan tâm tới tri thức đường phố.
Theo bạn, tri thức nào sẽ giành chiến thắng trong thời đại kinh tế suy thoái?
Tri thức nào sẽ chiến thắng khi nền kinh tế khởi sắc trở lại?
Trong cuộc tranh luận không hồi kết giữa trí tuệ thực tiễn và trí tuệ hàn lâm,
giữa tri thức đường phố và tri thức sách vở, có một chút mơ hồ liên quan đến
thiên hướng mà cha mẹ, họ hàng, các thầy cô, các nhà truyền thông và các
chính trị gia “lái” chúng ta theo ngay từ khi chúng ta còn là những đứa trẻ.
Trong bộ phim The Graduate (Tạm dịch: Lễ tốt nghiệp) có một cảnh nổi
tiếng là trong bữa tiệc tốt nghiệp tổ chức xung quanh bể bơi của gia đình,
nhân vật Benjamin, do nam diễn viên Dustin Hoffman thủ vai, một cử nhân
quản trị kinh doanh mới tốt nghiệp, nhận được lời khuyên chân thành về
nghề nghiệp từ một người bạn của gia đình. “Tôi muốn nói với cậu một từ.
Chỉ một từ thôi… Cậu có muốn nghe không?” người bạn của gia đình hỏi.
Benjamin gật đầu đồng ý.
“Plastics.”
Lời khuyên cho thành công: “Học chăm chỉ thời trung học, bước vào một đại
học danh tiếng và cầm lấy tấm bằng tốt nghiệp” đang dần trở nên rỗng tuếch,
cũ rích và lỗi thời. Nếu bạn muốn biết ngày nay, một tấm bằng đại học
chứng nhận trí tuệ học thuật của bạn có giá trị tới đâu, bạn chỉ cần đăng một
quảng cáo tuyển dụng việc làm thêm trên mạng.
Bản thân tôi cũng đăng rất nhiều quảng cáo tuyển dụng trong nhiều năm qua,
gồm nhiều việc làm thêm lặt vặt, khuân vác, lau dọn gara hay đẩy xe rác.
Như trong ví dụ của Bryan, tôi có thể khẳng định rằng: Cho dù công việc có
tẻ nhạt hay được trả công thấp đến mức nào đi chăng nữa, bạn vẫn nhận
được hàng loạt đơn xin việc từ các cử nhân đại học.
Những ứng viên đầy bằng cấp có tất cả những công cụ mà xã hội, gia đình,
thầy cô và mọi người xung quanh cho là cần thiết để thành công. Thế nhưng
trong trường hợp của Bryan, tình trạng khủng hoảng kinh tế những năm
2000 đã khiến hàng trăm cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ xếp hàng để có được công
việc tẻ nhạt với mức lương bèo bọt 10 đô-la/giờ đăng bởi một chủ doanh
nghiệp trẻ không có bằng đại học.
Bạn muốn chạy theo bằng cấp hay theo đuổi thành công?
Trong thời đại công nghiệp hóa ngày nay, những người có kinh tế ở mức khá
trở lên cho rằng điều quan trọng nhất mà những đứa trẻ từ 6 đến 22 tuổi cần
theo đuổi chính là điểm số. Điều đáng quan tâm thứ hai là những hoạt động
ngoại khóa như các môn thể thao, âm nhạc, các hoạt động tình nguyện để tô
điểm cho hồ sơ và bản CV đầu vào đại học. Nhưng nếu hỏi rằng mối quan
tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh, thầy cô giáo, các chính trị gia và xã
hội muốn con trẻ của họ để tâm tới suốt 16 năm trời, từ 6 đến 22 tuổi là gì,
thì câu trả lời quá rõ ràng và đơn giản: Đạt được điểm tốt.
Bạn đã bao giờ dừng lại và suy nghĩ xem những vấn đề này kỳ quái thế nào
chưa? Vì sao tất cả chúng ta đều bị thuyết phục rằng các khóa đào tạo sẽ
mang đến cho bạn những tri thức học thuật hiệu quả, cần thiết và tiên quyết
cho thành công trong cuộc sống? Tại sao tất cả chúng ta đều bị thuyết phục
rằng mớ kiến thức ấy xứng đáng để chúng ta cống hiến 16 năm đẹp đẽ nhất
cuộc đời? Chúng ta có nên dành phần lớn tuổi trẻ của mình, những năm
tháng vui vẻ nhất, tràn đầy nhiệt huyết nhất, đam mê nhất và sáng tạo nhất,
để theo đuổi những con số và con chữ bé nhỏ nhằm chứng tỏ trí tuệ học
thuật?
Ken Robinson, tác giả cuốn sách The element: How Find your Passion
Changes Everything (Tạm dịch: Nguyên tố: Tìm kiếm đam mê thay đổi mọi
thứ) rất quan tâm đến câu hỏi khó nhằn này. Trong chương trình TED
(Technology Entertainment and Design: Thiết kế và giải trí công nghệ), có
một cuộc nói chuyện qua video rất nổi tiếng với tựa đề “Ken Robinson nói
rằng trường học giết chết sự sáng tạo” (sau này nó trở thành một trong những
cuộc nói chuyện được tải nhiều nhất từ TED.com), Ken cho rằng: “Nếu bạn
bước chân vào nền giáo dục chính thống như một kẻ ngoại đạo và thắc mắc:
'Nền giáo dục công lập phục vụ điều gì?' Tôi nghĩ khi nhìn vào kết quả đầu
ra, nhìn vào những người thành công nhờ nó, người tạo nên được những điều
tốt đẹp và cả những người chiến thắng, bạn sẽ phải kết luận rằng toàn bộ
mục đích của hệ thống giáo dục công lập trên toàn thế giới là sản sinh ra các
giáo sư đại học. Không phải vậy sao? Họ luôn là người dẫn đầu… Tôi yêu
quý các giáo sư đại học, nhưng bạn biết đấy, chúng ta không tôn vinh họ như
những đỉnh cao thành công của nhân loại. Họ chỉ là một hình thái khác của
cuộc sống.”
Nhà phê bình giáo dục đương đại Charles Murray quan niệm: “Các loại hình
công việc đòi hỏi nền giáo dục đại học giống như người đầu bếp phải qua
giai đoạn nỗ lực học nghề để trở thành một đầu bếp thượng hạng, dẫu đây
chỉ là lĩnh vực thu hút một số ít người.” Nhưng nếu bạn không muốn dấn
thân vào con đường khoa học nghiên cứu, bạn sẽ thấy chỉ có trí tuệ hàn lâm
là không bao giờ đủ. Phát triển tri thức thực tiễn sẽ cải thiện đáng kể năng
lực và thành công của bạn.
Cuốn sách này chính là cẩm nang giúp bạn phát triển những kỹ năng thực tế
thiết yếu. Chúng tôi tập trung vào bảy kỹ năng quan trọng cần thiết để bạn
đạt tới thành công trong cuộc sống và sự nghiệp. Dĩ nhiên, những kỹ năng
thực tế này không thể thay thế cho tấm bằng đại học. Bạn có thể học được
nhiều điều tuyệt vời ở trường đại học. Bạn có thể nảy ra những ý tưởng mới,
mở rộng cái nhìn về cuộc sống, học về kỹ năng tư duy phản biện nhạy bén
và đắm mình trong kho tàng văn hóa, trí tuệ của nhân loại.
Nhưng tôi dám chắc rằng dù bạn đã học xong đại học, bạn vẫn không được
học cách biến những kiến thức học thuật trừu tượng thành những ứng dụng
thực tế trong cuộc sống của chính mình. Hơn nữa, việc bổ sung những kỹ
năng thực tế là không bắt buộc trong các trường đại học. Vì thế, những kỹ
năng trình bày trong cuốn sách này là phần bổ sung thiết yếu cho hệ giáo dục
đại học để bạn thành công hơn nữa trong công việc và cuộc sống.
Kỹ năng thành công số 1
CÁCH TẠO SỰ KHÁC BIỆT MÀ KHÔNG TỐN QUÁ NHIỀU CÔNG
SỨC
Vào một đêm năm 1967, ca sỹ, nhạc sỹ kiêm tay guitar 21 tuổi tên là David
đã phải nhập viện ở Paris do suy nhược cơ thể nghiêm trọng. Lý do là vì dù
chơi nhạc ở các quán bar, hộp đêm và những buổi khiêu vũ trên khắp nước
Pháp và Tây Ban Nha, David cũng không kiếm đủ tiền để mua thức ăn.
Nếu tối nay không chơi nhạc, ngày mai anh sẽ chẳng có gì bỏ vào miệng.
Hai năm trước đó, David đang học lớp 6 ở Cambridge, Anh (tương đương
với 2 năm cuối cấp 3 tại Mỹ.) David không thi lấy chứng chỉ bậc A, các kỳ
thi quyết định đầu vào đại học tại Anh. Điều duy nhất David thực sự quan
tâm là nhạc rock, anh sống hết mình cho nó, tham gia vào các ban nhạc địa
phương và cũng sống bằng niềm đam mê của mình, hết buổi chơi nhạc này
đến buổi chơi nhạc khác, cả ở Pháp và Tây Ban Nha. Nếu bạn chứng kiến
khoảnh khắc sức tàn lực kiệt của một chàng trai 21 tuổi trên giường bệnh tại
Paris, không một xu dính túi để mua đồ ăn cho mình, có thể bạn sẽ không
bao giờ nghĩ rằng lựa chọn không tham gia thi lấy chứng chỉ bậc A của anh
là đúng hay chàng trai đó sẽ có một tương lai xán lạn.
Và khi dự đoán đó có thể chính xác với hầu hết các nghệ sỹ nghèo đói, thì
với anh nghệ sỹ ốm o về thể xác nhưng mạnh mẽ về tâm hồn này, dự đoán
đó chẳng hợp lý chút nào.
David trở về Anh và một năm sau đó, Nick Mason, tay trống thân quen với
David đã đề nghị anh cùng gia nhập vào một ban nhạc nhỏ lấy tên là
Lưu trang
Pink Floyd. Ban nhạc này đã bán được hơn 200 triệu album trong vòng hơn
40 năm sau đó. The Dark Side of the Moon là album nổi tiếng nhất của ban
nhạc, đã bán được hơn 45 triệu bản trên toàn thế giới, được xếp vào danh
sách những album bán chạy nhất, được chào đón nồng nhiệt nhất và gây ảnh
hưởng nhất mọi thời đại. Trong vai trò của tay guitar chính, ca sỹ chính và
nhạc sỹ chính của ban nhạc, David Gilmour đã tạo ra rất nhiều bản hit trong
hơn 40 năm qua, dễ dàng trở thành một trong những nhạc sỹ ấn tượng nhất
trong lịch sử nhạc rock.
Tôi cũng là một fan nhạc rock. Tôi muốn cảm ơn David vì đã mang những
cơn lốc âm nhạc đến rất nhiều đêm cuồng nhiệt tại trường đại học, những bài
hát triết lý về ý nghĩa cuộc sống hay bồi dưỡng tình yêu thay vì chuyện học
hành. Những trải nghiệm thời đại học với tôi rất ý nghĩa nhưng không thể
phủ nhận rằng âm nhạc đã mang đến nhiều niềm vui, niềm hứng khởi và sự
trân trọng cuộc sống cho tôi và cả hàng triệu người khác cho tới một thập kỷ
sau khi ra trường. David Gilmour đã tạo nên sự khác biệt vô cùng lớn lao
trong cuộc sống của rất nhiều người trên hành tinh này. Thế giới sẽ nghèo
nàn hơn nếu thiếu anh và âm nhạc của anh. Tôi cho rằng David đã sống một
cuộc đời đầy ý nghĩa.
Chắc hẳn, bạn vẫn còn điều gì đó hồ nghi về câu chuyện của David, câu
chuyện về người đã tạo nên sự khác biệt lớn trên thế giới.
Một năm trước khi nổi tiếng, David vẫn là một nhạc sỹ với những món quà
âm nhạc, lòng quyết tâm gây ảnh hưởng trong thế giới âm nhạc và sống một
cuộc sống đầy ý nghĩa như khi nổi tiếng. Nhưng lúc đó, thế giới không quan
tâm liệu anh muốn tạo ra ảnh hưởng thế nào hay “giá trị” mà anh muốn
mang lại. Thực tế, David không thể xoay xở cuộc sống của mình chỉ nhờ vào
số tiền mà công chúng trả cho những món quà âm nhạc của anh. Một trong
những nhạc sỹ vĩ đại nhất trong lịch sử nhạc rock gần như chết đói trước khi
anh và ban nhạc của mình được “khai quật”.
Tất cả chúng ta hay ít nhất là những người đầy ắp ý tưởng muốn tạo sự khác
biệt trên thế giới, cho dù trong lĩnh vực kinh doanh, nghệ thuật, chính trị, từ
thiện, khoa học hoặc công nghệ. Ít nhất là chúng ta muốn tạo ra sự khác biệt
ở chính cộng đồng mình. Điều này thực sự có ý nghĩa: Tạo nên sự khác biệt,
gây ảnh hưởng và sống có mục đích.
Vẫn tồn tại những nghịch lý để “tạo nên sự khác biệt” và “gây ảnh hưởng”.
Thế giới không phải lúc nào cũng quan tâm liệu chúng ta có muốn tạo nên sự
khác biệt hay gây ảnh hưởng không. Thực tế, nó có thể đi ngược lại với
những gì ta cố gắng. Thế giới không tự dang tay đón chúng ta chỉ vì chúng ta
có những lý tưởng tốt đẹp. Nó có thể cười cợt vào cái gọi là “lý tưởng” ấy
hoặc phổ biến hơn là lắc đầu ngao ngán và ngoảnh mặt làm ngơ trước bất cứ
điều gì.
Tôi đã hỏi David về bí quyết đưa anh đến thành công và câu trả lời rất thẳng
thắn là: “Tôi đã gặp may. May mắn đóng một vai trò rất rất quan trọng để
làm nên thành công của tôi. Họ nói anh phải tự tạo ra may mắn cho chính
mình nhưng đôi khi tôi không chắc chắn lắm về điều đó. Rất nhiều người
cũng có quyết tâm như tôi, đi đúng theo con đường mà tôi từng đi, cũng đầu
tư nhiều tâm sức vào ngành công nghiệp âm nhạc chứ không theo học đại
học, nhưng cuối cùng âm nhạc vẫn không thể nuôi sống được họ. Về sau, họ
bị mắc kẹt trong những công việc “giật gấu vá vai”. Họ sẽ không phải sống
qua những ngày như thế nếu kiên trì theo đuổi sự nghiệp học hành. Đây hoàn
toàn không phải hướng đi mà tôi muốn gợi ý cho tất cả mọi người, trừ
trường hợp bạn chắc chắn 110% và chứng minh được rằng niềm đam mê của
bạn là điều bạn phải theo đuổi và sẵn lòng vì nó mà từ bỏ rất nhiều thứ
khác.”
Rất ít người ước mơ về thứ mình dễ dàng đạt được. Rất ít người chỉ ước
mình mãi là một quản lý cấp trung mờ nhạt hoặc một nhân viên bàn giấy vô
danh trong các văn phòng quan liêu trong suốt cuộc đời mình. Chúng chẳng
giống với mục đích sống cho lắm.
Ước mơ và mục đích sống là thứ lãng mạn, phiêu lưu và đầy hứng khởi.
Chúng ta mơ ước trở nên nổi tiếng, giàu có và tạo được tiếng vang trong thế
giới rộng lớn này. Chúng ta mơ ước trở thành những ngôi sao nhạc rock. Nếu
không phải là những ngôi sao nhạc rock đích thực như David thì cũng là một
vận động viên, một diễn viên, một tác giả, một đạo diễn, một nghệ sỹ, một
chính trị gia, một nhà khoa học xuất sắc, một CEO giàu kinh nghiệm, một tỷ
phú hay triệu phú nổi tiếng (giống như một số doanh nhân mà tôi phỏng vấn
trong cuốn sách này). Cũng có thể chúng ta mong muốn tạo được danh tiếng
trong các lĩnh vực truyền thống như luật, y tế, học thuật, hay tác động lớn
đến cộng đồng ở vị trí lãnh đạo hoặc từ thiện. Cũng có thể chúng ta ước mơ
trở thành một giáo viên xuất sắc và tạo nên khác biệt ở hàng trăm trẻ em.
Sự thật là những ước mơ tạo dựng sự khác biệt luôn đi kèm với rủi ro. Bạn
càng khao khát trở thành một ngôi sao trong lĩnh vực nào đó, dù là giáo viên,
bác sỹ, luật sư, nghệ sỹ, nhạc sỹ hoặc doanh nhân, bạn càng phải đối mặt với
nhiều rủi ro hơn trong sự nghiệp. Rất ít người tạo được danh tiếng trong lĩnh
vực của mình, tạo dựng được sự khác biệt cho cuộc sống của nhiều người
khác, hay xác định chí hướng cho sự nghiệp của mình đơn giản chỉ bằng việc
chăm chăm đi theo một kịch bản đã viết sẵn và đặt chân lên con đường có
nhiều người lui tới.
Bạn có thể tìm được một sân vận động đầy những thanh niên 21 tuổi tài năng
với nghị lực và lòng quyết tâm cao, tất cả đều đam mê gây ảnh hưởng tới thế
giới theo cách của tuổi trẻ trong các lĩnh vực như âm nhạc, nghệ thuật, văn
học, diễn xuất, làm phim, chính trị, khoa học, công nghệ, truyền thông, từ
thiện hoặc kinh doanh. Trong sân vận động gồm những nhân tài này, chỉ có
một hoặc hai người sẽ trở thành “siêu sao” trong lĩnh vực của mình như
David Gilmour.
Cuối cùng, rất nhiều người trong sân vận động đó bị vỡ mộng và phải cúi
đầu chịu thua. Một cảnh tượng thật đáng sợ. Rất nhiều người trẻ nghĩ tới
viễn cảnh đó mà sợ hãi, không còn dám liều lĩnh, đành trung thành với
những kịch bản an toàn trong sự nghiệp để gặp ít rủi ro, thất bại nhất và
đương nhiên, thành tựu đạt được cũng chẳng có gì nổi bật.
Vậy điều phân biệt giữa một hoặc hai “siêu sao” vươn tới ước mơ của mình
với những cá nhân đầy ắp ý tưởng, giàu đam mê và tài năng nhưng lại thất
bại là gì?
Rất nhiều chuyên gia được phỏng vấn về bí quyết thành công đều đề cập đến
tài năng, nghị lực, lòng quyết tâm, sự tự tin, kiên trì – những phẩm chất “xưa
như trái đất” về sự nỗ lực tự vươn lên. Sự trung thực, biết lượng sức mình
của các siêu sao như David Gilmour đã hoàn thiện danh sách các phẩm chất
đáng quý đó. Họ cũng coi trọng vai trò của sự ngẫu nhiên, sự đồng điệu và
những cơ hội may mắn. Các “ngôi sao” này tỏa sáng nhờ những phẩm chất
đó. Chúa đã mỉm cười với họ. Những thời cơ vừa chín muồi. Sự may mắn vô
hình hiện hữu.
Họ không gọi đó là một “dịp may”.
Nếu không có rủi ro đi kèm với nỗi sợ hãi, chúng ta đã chẳng cần mơ ước,
thay vào đó là bắt tay vào hiện thực hóa nó ngay lập tức. (Cửa hàng tạp hóa
lúc nào cũng tuyển thu ngân. Nếu bạn mong muốn trở thành một thu ngân,
bạn có thể biến ước mơ thành sự thật ngay lập tức. Nhưng tôi cá rằng đó
không phải là ước mơ của bạn.)
Vậy làm thế nào để chúng ta dung hòa những giấc mơ tạo dựng sự khác biệt
cháy bỏng, giấc mơ được làm chủ một cuộc sống có ý nghĩa, có tầm ảnh
hưởng và có lý tưởng với thực tế phũ phàng là thế giới không phải lúc nào
cũng “để mắt” tới sự khác biệt mà chúng ta muốn tạo ra hay dành tặng điểm
A cho nỗ lực của chúng ta?
Vượt qua những thác ghềnh trước mắt này là một trong những năng lực quan
trọng nhất mà bạn có thể luyện rèn mà thành. Nếu chẳng lưỡng lự giữa hai
dòng nước, chưa chắc bạn đã được thoải mái trong cuộc sống. Nếu lựa chọn
theo đuổi những đỉnh cao sự nghiệp quá xa vời mà không lường trước những
rủi ro, có thể bạn sẽ phải nhận kết cục như David ở tuổi 21, phải nhập viện vì
suy nhược cơ thể. Và hiếm ai đang chênh vênh gần miệng hố tử thần đủ may
mắn để có thể thực hiện một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục như David đã
từng làm.
Còn nếu nhượng bộ nỗi sợ hãi và lựa chọn một con đường an toàn, hay thậm
chí là phân vân và không xác định rõ tầm ảnh hưởng mình muốn tạo ra, mục
tiêu mình muốn đạt được, thì cuối cùng bạn sẽ cảm thấy hối tiếc. Bạn có thể
hài lòng với mức thu nhập an toàn và ổn định của mình nhưng trong lòng có
thể day dứt không yên. Chẳng ai gọi đó là “thành công” cả.
Vì thế, trong phần mở đầu của bất kỳ cuộc thảo luận về thành công nào, điều
bạn cần không phải là bài thuyết trình dài dòng, nào là “hãy tin tưởng vào
bản thân”, “tự tin vào chính mình” hay “nỗ lực hơn nữa”, như nội dung
chuẩn mực của nhiều cuốn sách khác. Đó phải là một cuộc thảo luận trung
thực về cách thức vươn tới những ước mơ đáng trân trọng, cách vượt qua
những rủi ro và đặt chân vào thương trường thực tế một cách suôn sẻ.
Xung đột giữa việc tạo dựng ảnh hưởng với việc lựa chọn một cuộc sống
tẻ nhạt
Bạn càng khao khát muốn tạo dấu ấn trong lĩnh vực mình yêu thích, mục tiêu
của bạn càng sâu đậm thì tiềm năng bạn gặp rủi ro càng cao. Có nghĩa là
nguy cơ “trắng tay” của bạn càng cao hoặc công sức của bạn sẽ đổ xuống
sông xuống bể và buộc phải chấp nhận thất bại.
Vậy tại sao lại tồn tại xung đột giữa lựa chọn một cuộc sống an phận và nỗ
lực tạo dựng sự khác biệt, giữa cuộc sống tẻ nhạt và sống có mục đích. Tôi
sẽ giúp bạn vạch ra một kế hoạch chi tiết để vượt qua những thác ghềnh này.
Nhưng trước tiên, hãy đọc câu chuyện đầy kịch tính trong gia đình dưới đây,
một hiện tượng như “cơm bữa” ở hàng nghìn hộ gia đình trên toàn nước Mỹ
hàng năm.
Cha mẹ đã chắt chiu và tiết kiệm trong nhiều năm, thậm chí là vài chục năm
để cho con gái của họ học đại học với hy vọng cô có thể ngẩng đầu với thiên
hạ. Khi cô con gái học đại học, cô quyết định chọn chuyên ngành nghệ thuật
kịch hoặc lịch sử nghệ thuật. Một cuộc tranh cãi nảy lửa đã diễn ra trong gia
đình:
Cha mẹ: Nhưng làm thế nào con có thể kiếm sống nhờ chuyên ngành nghệ
thuật (kịch, biên kịch, triết học, văn học, thơ)? Làm gì có nơi nào đăng tuyển
dụng: “Cần tuyển nhân viên chính thức chuyên ngành nghệ thuật”?
Con gái: Nhưng thưa cha mẹ, đây là đam mê của con. Bố mẹ muốn con sống
cuộc đời của một con tàu không người lái, cả ngày ngồi trong xó phòng của
những công ty tẻ ngắt và để năng khiếu nghệ thuật trong con chết dần chết
mòn sao?
Cha mẹ: Đương nhiên, bố mẹ ủng hộ đam mê của con. Bố mẹ chỉ muốn con
có một phương án dự phòng khi nghệ thuật chẳng nuôi sống được con. Con
thông minh và vừa đưa ra một lý lẽ rất thuyết phục, sao con không nghĩ mình
sẽ trở thành một luật sư giống anh họ con, Sue? Lúc ấy, con vừa có thể hoạt
động nghệ thuật khi có thời gian rảnh rỗi. Diễn xuất là nghề tay trái, con ạ.
Con gái: Cha mẹ không hề hiểu con! Cuộc sống không bó gọn trong một
công việc an toàn đến mức tẻ nhạt. Nó lớn lao và ý nghĩa hơn nhiều so với số
tiền mà cha mẹ có trong tài khoản ngân hàng. Cha mẹ sẽ hối tiếc vì đã ngăn
cản con theo đuổi ước mơ của mình, v.v…
Những tranh luận tương tự cũng diễn ra khi những đứa con vừa tốt nghiệp
cấp ba nói với bố mẹ rằng mình không có dự định học đại học hay khi các
sinh viên đại học thông báo cho cha mẹ rằng mình sẽ nghỉ học. Cameron
Johnson, một doanh nhân tự do thành đạt, một tỷ phú tự lập (một sinh viên
bỏ học giữa chừng) đã hai lần tranh cãi với cha mẹ mình tương tự thế.
Lần thứ nhất là khi còn học cấp 3, anh đã nói với cha mẹ rằng mình sẽ không
thi đại học vì anh quá bận rộn với việc xây dựng kế hoạch kinh doanh đang
thành công của mình.
“Michael Dell cũng chẳng có bằng đại học,” tôi nói với bố mẹ mình. “Bill
Gates cũng chẳng có bằng đại học.”
Bố mẹ tôi nói rằng tôi không phải là Michael Dell hay Bill Gates gì hết. Tôi
là con trai họ và họ muốn tôi học hành tử tế.
Cameron đã đuối lý và buộc phải trở thành sinh viên của trường Đại học
Công nghệ Virginia. Tuy nhiên, một thời gian ngắn sau khi nhập học, cuộc
tranh luận thứ hai đã xảy ra khi anh thông báo với cha mẹ việc anh sẽ bỏ học
để đầu tư kinh doanh.
Họ nói: “Không, không thể được!”
Tôi nói rằng: “Bố mẹ xem các ngôi sao bóng rổ đều bước thẳng trường cấp 3
tới NBA4, hay các diễn viên và nhạc sỹ chẳng cần bận tâm tới trường đại
học bởi họ đã sớm dấn bước trên con đường sự nghiệp. Còn cả các doanh
nhân thành đạt, họ chẳng cần đến 4 năm học để tìm hiểu về lĩnh vực của
mình. Nếu mất những 4 năm học, con cũng chỉ dậm chân tại vị trí trước khi
vào đại học, trong khi hiện tại con đang có lợi thế để tiến xa hơn. Đầu tư
những 4 năm trời trong trường đại học nghĩa là 4 năm đó con sống ngoài rìa
thế giới kinh doanh. Trong thời đại Internet bùng nổ bây giờ, mọi thứ thay
đổi đến chóng mặt, các bạn đồng môn khác sẽ chẳng thể đuổi kịp được con.”
Bố tôi lên tiếng: “Học đại học chẳng chết ai.”
Tôi đáp lại: “Con đồng ý, nếu con muốn thì 10 năm nữa học cũng chẳng
muộn.”
Bố nói: “Cameron, con có thể mất nhà, mất công ty, tiền bạc, thậm chí là vợ
con, nhưng không thể thất học. Học vấn là thứ duy nhất không rời bỏ con.”
Tôi đáp lại rằng: “Điều đó đúng nhưng con không đồng ý. Con vẫn đang học
hỏi, tại trường đời. Cho dù con không ngồi trên giảng đường hàng ngày,
nhưng con vẫn học với nhịp độ nhanh hơn các bạn bởi họ phải cố gắng tiếp
thu bài giảng của thầy cô còn con học được chúng bằng cách trải nghiệm
chúng.”
Những tranh luận và các câu chuyện kịch tính kiểu này trong các gia đình,
tôi thấy, chẳng khác nào những tranh luận của chúng ta về sự an toàn với thái
độ anh hùng trong cuộc sống. Sự an toàn và thái độ anh hùng hoàn toàn đối
lập nhau. Hãy tưởng tượng một bộ phim mà nhân vật anh hùng chẳng cần
mạo hiểm hay xông pha gian khó để chớp lấy cơ hội, và bao quanh anh ta là
một lớp nilon bảo vệ để tránh những va chạm và tổn thương thường nhật. Bộ
phim có cảnh anh ta đi bộ trên vỉa hè, vào một ngày nắng đẹp trong lớp vỏ
nilon bao bọc tới một cửa hàng và mua vài nguyên liệu cho bữa tối. Hết
phim!
Liệu bộ phim này có hấp dẫn không?
Trẻ nhỏ luôn muốn tạo dựng ảnh hưởng lớn đến thế giới, muốn thay đổi thế
giới, để tạo ấn tượng về sự tồn tại của mình. Chúng muốn một lý tưởng và sự
nhiệt tình. Chúng muốn trở thành anh hùng. Không đứa trẻ nào muốn là một
nhân viên bàn giấy hay nhân viên văn phòng tẻ nhạt.
Cha mẹ bọn trẻ cũng muốn con cái của mình cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa
và sống thoải mái nhưng họ thấy nghề nghiệp mà chúng mơ ước (nghệ thuật
và giải trí, văn học, viết blog, truyền thông, thể thao, xã hội học và kinh
doanh…) đầy rủi ro.
Về điểm này, bố mẹ của chúng hoàn toàn đúng: Những nỗ lực này tiềm ẩn
đầy rủi ro. Nói cách khác, khả năng thất bại khi theo đuổi các ngành nghề
này rất cao so với lựa chọn trở thành một nha sỹ hay kế toán. Vì thế, với
quyền lực bất khả̉ xâm phạm và thương lượng để bảo vệ và định hướng cho
các con, các ông bố bà mẹ thường hướng các con theo con đường an toàn, ít
rủi ro khi hướng nghiệp cho con. Họ có xu hướng nói về các kế hoạch trù bị
hay những đường thoái lui và cân nhắc về những niềm đam mê của chúng.
Tại sao lại tồn tại mâu thuẫn giữa sự an toàn và tinh thần anh hùng, giữa tầm
ảnh hưởng và sự mờ nhạt? Lý do hết sức đơn giản: theo định nghĩa “gây ảnh
hưởng”, “tạo dựng sự khác biệt” hay “sống có mục đích” liên quan đến việc
thoát khỏi những lề lối đã tồn tại trong bất kỳ một thị trường, tổ chức, lĩnh
vực, vùng miền hay xã hội nào. Nó liên quan đến đổi mới hoặc trải nghiệm
tiên phong. Bryan Franklin mà tôi nhắc đến trong phần Mở đầu đã định
nghĩa khả năng tiên phong là “tạo ra tương lai chưa từng tồn tại cho những
người khác.” Nếu những gì bạn đang cố gắng đạt được không diễn ra theo ý
bạn, thì thật khó để nói rằng bạn đang gây được nhiều ảnh hưởng hay mục
đích của bạn có điểm gì nổi bật.
Ngoài ra, nỗ lực thay đổi hiện tại, gây ảnh hưởng hay sống với niềm đam mê
của bản thân kéo theo những rủi ro về tài chính hơn là k...
NỀN GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI
GIÀU
Bản quyền tiếng Việt © 2013 Công ty Cổ phần Sách Alpha
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
TẠI SAO TRÍ TUỆ THỰC TIỄN
luôn đánh bại trí tuệ hàn lâm?
(Trường đời quan trọng hơn sách vở?)
Người ta rót vào tai bạn rằng nếu học hành chăm chỉ ở trung học, đạt điểm
số cao, vào một trường đại học danh tiếng, có tấm bằng trong tay thì chắc
chắn bạn sẽ thành công trong suốt cuộc đời.
Điều này có thể đúng nếu chúng ta sống cách đây 50 năm. Còn ngày nay,
mọi chuyện đã khác.
Giờ đây, nếu muốn thành công, bạn phải tự trau dồi thêm cho mình các kỹ
năng và tư duy thực tế. Điều này vẫn đúng cho dù bạn có học đại học hay
không.
Cuốn sách này sẽ chỉ dẫn cho bạn cách làm điều đó.
* * *
Trong một buổi phỏng vấn xin việc, một người 37 tuổi học MBA ở Harvard
ngồi đối diện với một thanh niên khoảng 25 tuổi bỏ học giữa chừng đã vài
lần “lỡ hẹn” với tấm bằng đại học chuyên ngành sân khấu và đạo diễn của
Đại học Nam California (USC). Người có bằng MBA mặc vest sang trọng,
đeo cà vạt vàng. Chàng thanh niên hơn 20 tuổi mặc quần jean, áo nỉ chui
đầu, không mặc sơ mi bên trong, râu ria tua tủa, tóc tai bờm xờm không chải
như thể anh ta vừa chui ra khỏi giường và lao thẳng đến buổi phỏng vấn vậy.
Buổi phỏng vấn diễn ra vô cùng nhạt nhẽo. Người phỏng vấn chẳng mảy
may ấn tượng với bảng thành tích học tập của người được phỏng vấn và thấy
anh ta không đủ kinh nghiệm để đem lại giá trị thực cho một công ty mới
thành lập trong bối cảnh thị trường khó khăn như công ty của anh.
Bryan Franklin, từng là một sinh viên chuyên ngành sân khấu bỏ học giữa
chừng quyết định sẽ tuyển dụng một người vào vị trí nhân viên hành chính
và nhập liệu cho mình với mức lương 10 đô-la một giờ thông qua kênh tuyển
dụng Craigslist vài ngày trước đó.
Khi còn theo học đại học, Bryan từng thành lập và điều hành, quản lý phát
triển một công ty thiết kế âm thanh. Tổng cộng có tới hơn 300 phim truyện
được biên tập hoặc lồng tiếng ở studio của anh, trong đó có Gladiator, The
Last Samurai và Arfitificial Intelligence. Bằng nỗ lực tự vươn lên, khởi
nghiệp từ hai bàn tay trắng và chưa bao giờ cần đến sự hỗ trợ từ các nhà đầu
tư, Bryan đã bán công ty của mình vào năm 2000 sau khi Dody Dorn được
đề cử giải Oscar dành cho biên tập viên với bộ phim Memento thực hiện ở
studio này. Nhờ bán công ty mà “tôi mua được một ngôi nhà trên đường
Lombard, San Francisco,” Bryan nói thêm với nụ cười mãn nguyện.
Vào đầu năm 2002, anh điều hành doanh nghiệp thứ ba do chính mình thành
lập và đầu tư vốn. Bryan chia sẻ rằng việc kinh doanh rất phát đạt và cần một
trợ lý, vì thế anh đã đăng quảng cáo tuyển dụng trên Craigslist. “Trong vòng
24 giờ, tôi nhận được 200 phản hồi. Hầu hết các ứng viên đều là cử nhân đại
học, một vài thạc sỹ và nghiên cứu sinh mới vượt qua kỳ thi đầu vào, thậm
chí có cả một số tiến sỹ đã tốt nghiệp và khoảng sáu MBA. Có một MBA tốt
nghiệp Harvard khiến tôi tò mò. Tôi đưa anh ta vào danh sách chốt gồm 10
ứng viên được phỏng vấn.
“Anh ta đến nhà tôi trong bộ đồ công sở chỉn chu. Tôi nói sơ qua về website
mà anh ta sẽ chịu trách nhiệm nhập số liệu với mức lương 10 đô-la một giờ
và thấy anh ta quả thật là “một con gà” về công nghệ Web. Tôi không tin nổi
anh ta đã nhắc đến từ “IPO” và cả “ưu tiên thanh khoản” trong buổi phỏng
vấn.
Khi tôi nói rằng: “Xem nào, tôi đang tìm kiếm người nhập số liệu và chăm
sóc khách hàng. Tôi muốn chắc chắn rằng khi khách hàng gọi đến, họ sẽ cảm
thấy mình là Thượng đế.”
Thì anh ta đáp lại: “Ồ, anh biết đấy, tôi nghĩ cần phải xây dựng chiến lược
xem chúng ta sẽ thúc đẩy những mối quan hệ nào…” Buổi phỏng vấn cứ thế
diễn ra. Có lúc anh ta hùng hồn nói: “Luôn có những con đường và giải pháp
khác nhau để dẫn đến thành công, vì thế một trong những điều tôi sẽ thực
hiện trong tuần đầu tiên đi làm là thiết lập một “ma trận ưu tiên” để chúng ta
cùng tham khảo…” Lúc đó, tôi hình dung trong đầu cảnh tượng anh ta ngồi
hí hoáy vẽ ma trận ưu tiên còn tôi thì phải hùng hục giải quyết tất cả mọi
việc.
“Cuối cùng, tôi đã thuê một phụ nữ Mỹ gốc Phi còn khá trẻ. Cô ấy chỉ học
hết trung học nhưng có tinh thần làm việc nhiệt tình và sở hữu nhiều “trí
thông minh đường phố.” Cô đã hoàn thành xuất sắc công việc của mình suốt
hơn 3 năm qua, được tăng lương vài lần và hiện đang quản lý một nhóm 3
nhân viên dưới quyền.”
Đương nhiên, bạn có thể học được rất nhiều điều thú vị từ trường đại học,
nhưng thực tế, chúng lại chẳng giúp ích gì cho thành công trong sự nghiệp
và tài chính của bạn. Bạn có thể mở rộng tầm hiểu biết, mài giũa các kỹ năng
tư duy phê phán, đưa ra những ý tưởng và quan điểm mới mẻ, đam mê khám
phá những di sản văn hóa hay tìm hiểu trí tuệ của những nhà tư tưởng vĩ đại
nhất hành tinh. Đó đều là những đam mê đáng theo đuổi.
Giả sử, trong một thị trường bất ổn, bạn muốn là Bryan Franklin hơn là vị
thạc sỹ Harvard nọ. Nói cách khác, bạn muốn tối ưu hóa các cơ hội của mình
trong cuộc sống, là nhà tuyển dụng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thay vì
là kẻ xin việc.
Để đạt tới mục tiêu tối đa hóa cơ hội thành công về chuyên môn trong bất kỳ
điều kiện kinh tế nào, bạn cần phải bắt đầu học hỏi những gì?
Đây chính là câu hỏi trọng tâm mà cuốn sách này sẽ trả lời. Tôi sẽ đưa ra lời
giải đáp cụ thể, chi tiết cho câu hỏi này trong hàng trăm trang sách tiếp theo.
Nhưng trước tiên, bạn hãy tìm lời giải cho câu hỏi:
Tại sao ngày hôm đó Bryan không có bằng đại học lại ngồi ở vị trí nhà tuyển
dụng và tại sao người đàn ông có bằng MBA của Harvard lại là người tìm
việc?
Tôi không có thông tin cá nhân nào về người có bằng MBA kia, vì thế tôi chỉ
có thể đưa ra phỏng đoán về cảnh ngộ khó khăn của anh ta. Nhưng tôi lại rất
tường tận câu chuyện của Bryan vì anh ấy là bạn thân của tôi. Tính đến thời
điểm đó, anh ấy đã dành 10 năm ròng để trau dồi những kỹ năng giúp anh
thành công như kinh doanh, marketing, lãnh đạo, quản lý, tài chính và kế
toán từ những trải nghiệm kinh doanh thực tế ở các công ty do chính anh gây
dựng lên bằng nguồn tài chính của mình. Nói cách khác, Bryan đã hướng
đến sự tự giáo dục bên ngoài các lớp học, như một số nhà nghiên cứu gọi là
“trí tuệ thực tiễn” hay còn có tên là “trí tuệ đường phố”, để hoàn thành mọi
thứ trong cuộc sống thật hiệu quả.
Còn người đàn ông học MBA ở Harvard có vẻ đã học và nghiên cứu các tài
liệu về marketing, kinh doanh, quản lý, lãnh đạo, tài chính và kế toán.
Nhưng tôi đoán chủ yếu là những lý thuyết sáo rỗng. Để hoàn thiện chương
trình cơ bản cho học viên, trọng tâm của nền giáo dục này là trí tuệ hàn lâm
để hoàn thành tốt các bài kiểm tra thay vì trí tuệ thực tiễn nhằm giải quyết
các vấn đề thực tế.
Cả hai người đều được giáo dục rất tốt nhưng tôi đoán, nền giáo dục của một
người thiên về lý thuyết với kiến thức sẵn có trong kho của các trường đại
học, cao đẳng, nền giáo dục của người còn lại (đó là nỗ lực tự học hỏi không
giống bất kỳ lớp học chính thức nào) thiên về thực hành. Nền giáo dục của
một người mang tính chất quan liêu, mô phạm và sách vở; người còn lại thu
nhận kiến thức từ những vật lộn trong cuộc sống, những bờ vực của thất bại
cá nhân. Một người được giáo dục trong ngôi trường danh giá, người còn lại
được tôi luyện trong trường đời. Một người tập trung vào tri thức sách vở,
người kia quan tâm tới tri thức đường phố.
Theo bạn, tri thức nào sẽ giành chiến thắng trong thời đại kinh tế suy thoái?
Tri thức nào sẽ chiến thắng khi nền kinh tế khởi sắc trở lại?
Trong cuộc tranh luận không hồi kết giữa trí tuệ thực tiễn và trí tuệ hàn lâm,
giữa tri thức đường phố và tri thức sách vở, có một chút mơ hồ liên quan đến
thiên hướng mà cha mẹ, họ hàng, các thầy cô, các nhà truyền thông và các
chính trị gia “lái” chúng ta theo ngay từ khi chúng ta còn là những đứa trẻ.
Trong bộ phim The Graduate (Tạm dịch: Lễ tốt nghiệp) có một cảnh nổi
tiếng là trong bữa tiệc tốt nghiệp tổ chức xung quanh bể bơi của gia đình,
nhân vật Benjamin, do nam diễn viên Dustin Hoffman thủ vai, một cử nhân
quản trị kinh doanh mới tốt nghiệp, nhận được lời khuyên chân thành về
nghề nghiệp từ một người bạn của gia đình. “Tôi muốn nói với cậu một từ.
Chỉ một từ thôi… Cậu có muốn nghe không?” người bạn của gia đình hỏi.
Benjamin gật đầu đồng ý.
“Plastics.”
Lời khuyên cho thành công: “Học chăm chỉ thời trung học, bước vào một đại
học danh tiếng và cầm lấy tấm bằng tốt nghiệp” đang dần trở nên rỗng tuếch,
cũ rích và lỗi thời. Nếu bạn muốn biết ngày nay, một tấm bằng đại học
chứng nhận trí tuệ học thuật của bạn có giá trị tới đâu, bạn chỉ cần đăng một
quảng cáo tuyển dụng việc làm thêm trên mạng.
Bản thân tôi cũng đăng rất nhiều quảng cáo tuyển dụng trong nhiều năm qua,
gồm nhiều việc làm thêm lặt vặt, khuân vác, lau dọn gara hay đẩy xe rác.
Như trong ví dụ của Bryan, tôi có thể khẳng định rằng: Cho dù công việc có
tẻ nhạt hay được trả công thấp đến mức nào đi chăng nữa, bạn vẫn nhận
được hàng loạt đơn xin việc từ các cử nhân đại học.
Những ứng viên đầy bằng cấp có tất cả những công cụ mà xã hội, gia đình,
thầy cô và mọi người xung quanh cho là cần thiết để thành công. Thế nhưng
trong trường hợp của Bryan, tình trạng khủng hoảng kinh tế những năm
2000 đã khiến hàng trăm cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ xếp hàng để có được công
việc tẻ nhạt với mức lương bèo bọt 10 đô-la/giờ đăng bởi một chủ doanh
nghiệp trẻ không có bằng đại học.
Bạn muốn chạy theo bằng cấp hay theo đuổi thành công?
Trong thời đại công nghiệp hóa ngày nay, những người có kinh tế ở mức khá
trở lên cho rằng điều quan trọng nhất mà những đứa trẻ từ 6 đến 22 tuổi cần
theo đuổi chính là điểm số. Điều đáng quan tâm thứ hai là những hoạt động
ngoại khóa như các môn thể thao, âm nhạc, các hoạt động tình nguyện để tô
điểm cho hồ sơ và bản CV đầu vào đại học. Nhưng nếu hỏi rằng mối quan
tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh, thầy cô giáo, các chính trị gia và xã
hội muốn con trẻ của họ để tâm tới suốt 16 năm trời, từ 6 đến 22 tuổi là gì,
thì câu trả lời quá rõ ràng và đơn giản: Đạt được điểm tốt.
Bạn đã bao giờ dừng lại và suy nghĩ xem những vấn đề này kỳ quái thế nào
chưa? Vì sao tất cả chúng ta đều bị thuyết phục rằng các khóa đào tạo sẽ
mang đến cho bạn những tri thức học thuật hiệu quả, cần thiết và tiên quyết
cho thành công trong cuộc sống? Tại sao tất cả chúng ta đều bị thuyết phục
rằng mớ kiến thức ấy xứng đáng để chúng ta cống hiến 16 năm đẹp đẽ nhất
cuộc đời? Chúng ta có nên dành phần lớn tuổi trẻ của mình, những năm
tháng vui vẻ nhất, tràn đầy nhiệt huyết nhất, đam mê nhất và sáng tạo nhất,
để theo đuổi những con số và con chữ bé nhỏ nhằm chứng tỏ trí tuệ học
thuật?
Ken Robinson, tác giả cuốn sách The element: How Find your Passion
Changes Everything (Tạm dịch: Nguyên tố: Tìm kiếm đam mê thay đổi mọi
thứ) rất quan tâm đến câu hỏi khó nhằn này. Trong chương trình TED
(Technology Entertainment and Design: Thiết kế và giải trí công nghệ), có
một cuộc nói chuyện qua video rất nổi tiếng với tựa đề “Ken Robinson nói
rằng trường học giết chết sự sáng tạo” (sau này nó trở thành một trong những
cuộc nói chuyện được tải nhiều nhất từ TED.com), Ken cho rằng: “Nếu bạn
bước chân vào nền giáo dục chính thống như một kẻ ngoại đạo và thắc mắc:
'Nền giáo dục công lập phục vụ điều gì?' Tôi nghĩ khi nhìn vào kết quả đầu
ra, nhìn vào những người thành công nhờ nó, người tạo nên được những điều
tốt đẹp và cả những người chiến thắng, bạn sẽ phải kết luận rằng toàn bộ
mục đích của hệ thống giáo dục công lập trên toàn thế giới là sản sinh ra các
giáo sư đại học. Không phải vậy sao? Họ luôn là người dẫn đầu… Tôi yêu
quý các giáo sư đại học, nhưng bạn biết đấy, chúng ta không tôn vinh họ như
những đỉnh cao thành công của nhân loại. Họ chỉ là một hình thái khác của
cuộc sống.”
Nhà phê bình giáo dục đương đại Charles Murray quan niệm: “Các loại hình
công việc đòi hỏi nền giáo dục đại học giống như người đầu bếp phải qua
giai đoạn nỗ lực học nghề để trở thành một đầu bếp thượng hạng, dẫu đây
chỉ là lĩnh vực thu hút một số ít người.” Nhưng nếu bạn không muốn dấn
thân vào con đường khoa học nghiên cứu, bạn sẽ thấy chỉ có trí tuệ hàn lâm
là không bao giờ đủ. Phát triển tri thức thực tiễn sẽ cải thiện đáng kể năng
lực và thành công của bạn.
Cuốn sách này chính là cẩm nang giúp bạn phát triển những kỹ năng thực tế
thiết yếu. Chúng tôi tập trung vào bảy kỹ năng quan trọng cần thiết để bạn
đạt tới thành công trong cuộc sống và sự nghiệp. Dĩ nhiên, những kỹ năng
thực tế này không thể thay thế cho tấm bằng đại học. Bạn có thể học được
nhiều điều tuyệt vời ở trường đại học. Bạn có thể nảy ra những ý tưởng mới,
mở rộng cái nhìn về cuộc sống, học về kỹ năng tư duy phản biện nhạy bén
và đắm mình trong kho tàng văn hóa, trí tuệ của nhân loại.
Nhưng tôi dám chắc rằng dù bạn đã học xong đại học, bạn vẫn không được
học cách biến những kiến thức học thuật trừu tượng thành những ứng dụng
thực tế trong cuộc sống của chính mình. Hơn nữa, việc bổ sung những kỹ
năng thực tế là không bắt buộc trong các trường đại học. Vì thế, những kỹ
năng trình bày trong cuốn sách này là phần bổ sung thiết yếu cho hệ giáo dục
đại học để bạn thành công hơn nữa trong công việc và cuộc sống.
Kỹ năng thành công số 1
CÁCH TẠO SỰ KHÁC BIỆT MÀ KHÔNG TỐN QUÁ NHIỀU CÔNG
SỨC
Vào một đêm năm 1967, ca sỹ, nhạc sỹ kiêm tay guitar 21 tuổi tên là David
đã phải nhập viện ở Paris do suy nhược cơ thể nghiêm trọng. Lý do là vì dù
chơi nhạc ở các quán bar, hộp đêm và những buổi khiêu vũ trên khắp nước
Pháp và Tây Ban Nha, David cũng không kiếm đủ tiền để mua thức ăn.
Nếu tối nay không chơi nhạc, ngày mai anh sẽ chẳng có gì bỏ vào miệng.
Hai năm trước đó, David đang học lớp 6 ở Cambridge, Anh (tương đương
với 2 năm cuối cấp 3 tại Mỹ.) David không thi lấy chứng chỉ bậc A, các kỳ
thi quyết định đầu vào đại học tại Anh. Điều duy nhất David thực sự quan
tâm là nhạc rock, anh sống hết mình cho nó, tham gia vào các ban nhạc địa
phương và cũng sống bằng niềm đam mê của mình, hết buổi chơi nhạc này
đến buổi chơi nhạc khác, cả ở Pháp và Tây Ban Nha. Nếu bạn chứng kiến
khoảnh khắc sức tàn lực kiệt của một chàng trai 21 tuổi trên giường bệnh tại
Paris, không một xu dính túi để mua đồ ăn cho mình, có thể bạn sẽ không
bao giờ nghĩ rằng lựa chọn không tham gia thi lấy chứng chỉ bậc A của anh
là đúng hay chàng trai đó sẽ có một tương lai xán lạn.
Và khi dự đoán đó có thể chính xác với hầu hết các nghệ sỹ nghèo đói, thì
với anh nghệ sỹ ốm o về thể xác nhưng mạnh mẽ về tâm hồn này, dự đoán
đó chẳng hợp lý chút nào.
David trở về Anh và một năm sau đó, Nick Mason, tay trống thân quen với
David đã đề nghị anh cùng gia nhập vào một ban nhạc nhỏ lấy tên là
Lưu trang
Pink Floyd. Ban nhạc này đã bán được hơn 200 triệu album trong vòng hơn
40 năm sau đó. The Dark Side of the Moon là album nổi tiếng nhất của ban
nhạc, đã bán được hơn 45 triệu bản trên toàn thế giới, được xếp vào danh
sách những album bán chạy nhất, được chào đón nồng nhiệt nhất và gây ảnh
hưởng nhất mọi thời đại. Trong vai trò của tay guitar chính, ca sỹ chính và
nhạc sỹ chính của ban nhạc, David Gilmour đã tạo ra rất nhiều bản hit trong
hơn 40 năm qua, dễ dàng trở thành một trong những nhạc sỹ ấn tượng nhất
trong lịch sử nhạc rock.
Tôi cũng là một fan nhạc rock. Tôi muốn cảm ơn David vì đã mang những
cơn lốc âm nhạc đến rất nhiều đêm cuồng nhiệt tại trường đại học, những bài
hát triết lý về ý nghĩa cuộc sống hay bồi dưỡng tình yêu thay vì chuyện học
hành. Những trải nghiệm thời đại học với tôi rất ý nghĩa nhưng không thể
phủ nhận rằng âm nhạc đã mang đến nhiều niềm vui, niềm hứng khởi và sự
trân trọng cuộc sống cho tôi và cả hàng triệu người khác cho tới một thập kỷ
sau khi ra trường. David Gilmour đã tạo nên sự khác biệt vô cùng lớn lao
trong cuộc sống của rất nhiều người trên hành tinh này. Thế giới sẽ nghèo
nàn hơn nếu thiếu anh và âm nhạc của anh. Tôi cho rằng David đã sống một
cuộc đời đầy ý nghĩa.
Chắc hẳn, bạn vẫn còn điều gì đó hồ nghi về câu chuyện của David, câu
chuyện về người đã tạo nên sự khác biệt lớn trên thế giới.
Một năm trước khi nổi tiếng, David vẫn là một nhạc sỹ với những món quà
âm nhạc, lòng quyết tâm gây ảnh hưởng trong thế giới âm nhạc và sống một
cuộc sống đầy ý nghĩa như khi nổi tiếng. Nhưng lúc đó, thế giới không quan
tâm liệu anh muốn tạo ra ảnh hưởng thế nào hay “giá trị” mà anh muốn
mang lại. Thực tế, David không thể xoay xở cuộc sống của mình chỉ nhờ vào
số tiền mà công chúng trả cho những món quà âm nhạc của anh. Một trong
những nhạc sỹ vĩ đại nhất trong lịch sử nhạc rock gần như chết đói trước khi
anh và ban nhạc của mình được “khai quật”.
Tất cả chúng ta hay ít nhất là những người đầy ắp ý tưởng muốn tạo sự khác
biệt trên thế giới, cho dù trong lĩnh vực kinh doanh, nghệ thuật, chính trị, từ
thiện, khoa học hoặc công nghệ. Ít nhất là chúng ta muốn tạo ra sự khác biệt
ở chính cộng đồng mình. Điều này thực sự có ý nghĩa: Tạo nên sự khác biệt,
gây ảnh hưởng và sống có mục đích.
Vẫn tồn tại những nghịch lý để “tạo nên sự khác biệt” và “gây ảnh hưởng”.
Thế giới không phải lúc nào cũng quan tâm liệu chúng ta có muốn tạo nên sự
khác biệt hay gây ảnh hưởng không. Thực tế, nó có thể đi ngược lại với
những gì ta cố gắng. Thế giới không tự dang tay đón chúng ta chỉ vì chúng ta
có những lý tưởng tốt đẹp. Nó có thể cười cợt vào cái gọi là “lý tưởng” ấy
hoặc phổ biến hơn là lắc đầu ngao ngán và ngoảnh mặt làm ngơ trước bất cứ
điều gì.
Tôi đã hỏi David về bí quyết đưa anh đến thành công và câu trả lời rất thẳng
thắn là: “Tôi đã gặp may. May mắn đóng một vai trò rất rất quan trọng để
làm nên thành công của tôi. Họ nói anh phải tự tạo ra may mắn cho chính
mình nhưng đôi khi tôi không chắc chắn lắm về điều đó. Rất nhiều người
cũng có quyết tâm như tôi, đi đúng theo con đường mà tôi từng đi, cũng đầu
tư nhiều tâm sức vào ngành công nghiệp âm nhạc chứ không theo học đại
học, nhưng cuối cùng âm nhạc vẫn không thể nuôi sống được họ. Về sau, họ
bị mắc kẹt trong những công việc “giật gấu vá vai”. Họ sẽ không phải sống
qua những ngày như thế nếu kiên trì theo đuổi sự nghiệp học hành. Đây hoàn
toàn không phải hướng đi mà tôi muốn gợi ý cho tất cả mọi người, trừ
trường hợp bạn chắc chắn 110% và chứng minh được rằng niềm đam mê của
bạn là điều bạn phải theo đuổi và sẵn lòng vì nó mà từ bỏ rất nhiều thứ
khác.”
Rất ít người ước mơ về thứ mình dễ dàng đạt được. Rất ít người chỉ ước
mình mãi là một quản lý cấp trung mờ nhạt hoặc một nhân viên bàn giấy vô
danh trong các văn phòng quan liêu trong suốt cuộc đời mình. Chúng chẳng
giống với mục đích sống cho lắm.
Ước mơ và mục đích sống là thứ lãng mạn, phiêu lưu và đầy hứng khởi.
Chúng ta mơ ước trở nên nổi tiếng, giàu có và tạo được tiếng vang trong thế
giới rộng lớn này. Chúng ta mơ ước trở thành những ngôi sao nhạc rock. Nếu
không phải là những ngôi sao nhạc rock đích thực như David thì cũng là một
vận động viên, một diễn viên, một tác giả, một đạo diễn, một nghệ sỹ, một
chính trị gia, một nhà khoa học xuất sắc, một CEO giàu kinh nghiệm, một tỷ
phú hay triệu phú nổi tiếng (giống như một số doanh nhân mà tôi phỏng vấn
trong cuốn sách này). Cũng có thể chúng ta mong muốn tạo được danh tiếng
trong các lĩnh vực truyền thống như luật, y tế, học thuật, hay tác động lớn
đến cộng đồng ở vị trí lãnh đạo hoặc từ thiện. Cũng có thể chúng ta ước mơ
trở thành một giáo viên xuất sắc và tạo nên khác biệt ở hàng trăm trẻ em.
Sự thật là những ước mơ tạo dựng sự khác biệt luôn đi kèm với rủi ro. Bạn
càng khao khát trở thành một ngôi sao trong lĩnh vực nào đó, dù là giáo viên,
bác sỹ, luật sư, nghệ sỹ, nhạc sỹ hoặc doanh nhân, bạn càng phải đối mặt với
nhiều rủi ro hơn trong sự nghiệp. Rất ít người tạo được danh tiếng trong lĩnh
vực của mình, tạo dựng được sự khác biệt cho cuộc sống của nhiều người
khác, hay xác định chí hướng cho sự nghiệp của mình đơn giản chỉ bằng việc
chăm chăm đi theo một kịch bản đã viết sẵn và đặt chân lên con đường có
nhiều người lui tới.
Bạn có thể tìm được một sân vận động đầy những thanh niên 21 tuổi tài năng
với nghị lực và lòng quyết tâm cao, tất cả đều đam mê gây ảnh hưởng tới thế
giới theo cách của tuổi trẻ trong các lĩnh vực như âm nhạc, nghệ thuật, văn
học, diễn xuất, làm phim, chính trị, khoa học, công nghệ, truyền thông, từ
thiện hoặc kinh doanh. Trong sân vận động gồm những nhân tài này, chỉ có
một hoặc hai người sẽ trở thành “siêu sao” trong lĩnh vực của mình như
David Gilmour.
Cuối cùng, rất nhiều người trong sân vận động đó bị vỡ mộng và phải cúi
đầu chịu thua. Một cảnh tượng thật đáng sợ. Rất nhiều người trẻ nghĩ tới
viễn cảnh đó mà sợ hãi, không còn dám liều lĩnh, đành trung thành với
những kịch bản an toàn trong sự nghiệp để gặp ít rủi ro, thất bại nhất và
đương nhiên, thành tựu đạt được cũng chẳng có gì nổi bật.
Vậy điều phân biệt giữa một hoặc hai “siêu sao” vươn tới ước mơ của mình
với những cá nhân đầy ắp ý tưởng, giàu đam mê và tài năng nhưng lại thất
bại là gì?
Rất nhiều chuyên gia được phỏng vấn về bí quyết thành công đều đề cập đến
tài năng, nghị lực, lòng quyết tâm, sự tự tin, kiên trì – những phẩm chất “xưa
như trái đất” về sự nỗ lực tự vươn lên. Sự trung thực, biết lượng sức mình
của các siêu sao như David Gilmour đã hoàn thiện danh sách các phẩm chất
đáng quý đó. Họ cũng coi trọng vai trò của sự ngẫu nhiên, sự đồng điệu và
những cơ hội may mắn. Các “ngôi sao” này tỏa sáng nhờ những phẩm chất
đó. Chúa đã mỉm cười với họ. Những thời cơ vừa chín muồi. Sự may mắn vô
hình hiện hữu.
Họ không gọi đó là một “dịp may”.
Nếu không có rủi ro đi kèm với nỗi sợ hãi, chúng ta đã chẳng cần mơ ước,
thay vào đó là bắt tay vào hiện thực hóa nó ngay lập tức. (Cửa hàng tạp hóa
lúc nào cũng tuyển thu ngân. Nếu bạn mong muốn trở thành một thu ngân,
bạn có thể biến ước mơ thành sự thật ngay lập tức. Nhưng tôi cá rằng đó
không phải là ước mơ của bạn.)
Vậy làm thế nào để chúng ta dung hòa những giấc mơ tạo dựng sự khác biệt
cháy bỏng, giấc mơ được làm chủ một cuộc sống có ý nghĩa, có tầm ảnh
hưởng và có lý tưởng với thực tế phũ phàng là thế giới không phải lúc nào
cũng “để mắt” tới sự khác biệt mà chúng ta muốn tạo ra hay dành tặng điểm
A cho nỗ lực của chúng ta?
Vượt qua những thác ghềnh trước mắt này là một trong những năng lực quan
trọng nhất mà bạn có thể luyện rèn mà thành. Nếu chẳng lưỡng lự giữa hai
dòng nước, chưa chắc bạn đã được thoải mái trong cuộc sống. Nếu lựa chọn
theo đuổi những đỉnh cao sự nghiệp quá xa vời mà không lường trước những
rủi ro, có thể bạn sẽ phải nhận kết cục như David ở tuổi 21, phải nhập viện vì
suy nhược cơ thể. Và hiếm ai đang chênh vênh gần miệng hố tử thần đủ may
mắn để có thể thực hiện một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục như David đã
từng làm.
Còn nếu nhượng bộ nỗi sợ hãi và lựa chọn một con đường an toàn, hay thậm
chí là phân vân và không xác định rõ tầm ảnh hưởng mình muốn tạo ra, mục
tiêu mình muốn đạt được, thì cuối cùng bạn sẽ cảm thấy hối tiếc. Bạn có thể
hài lòng với mức thu nhập an toàn và ổn định của mình nhưng trong lòng có
thể day dứt không yên. Chẳng ai gọi đó là “thành công” cả.
Vì thế, trong phần mở đầu của bất kỳ cuộc thảo luận về thành công nào, điều
bạn cần không phải là bài thuyết trình dài dòng, nào là “hãy tin tưởng vào
bản thân”, “tự tin vào chính mình” hay “nỗ lực hơn nữa”, như nội dung
chuẩn mực của nhiều cuốn sách khác. Đó phải là một cuộc thảo luận trung
thực về cách thức vươn tới những ước mơ đáng trân trọng, cách vượt qua
những rủi ro và đặt chân vào thương trường thực tế một cách suôn sẻ.
Xung đột giữa việc tạo dựng ảnh hưởng với việc lựa chọn một cuộc sống
tẻ nhạt
Bạn càng khao khát muốn tạo dấu ấn trong lĩnh vực mình yêu thích, mục tiêu
của bạn càng sâu đậm thì tiềm năng bạn gặp rủi ro càng cao. Có nghĩa là
nguy cơ “trắng tay” của bạn càng cao hoặc công sức của bạn sẽ đổ xuống
sông xuống bể và buộc phải chấp nhận thất bại.
Vậy tại sao lại tồn tại xung đột giữa lựa chọn một cuộc sống an phận và nỗ
lực tạo dựng sự khác biệt, giữa cuộc sống tẻ nhạt và sống có mục đích. Tôi
sẽ giúp bạn vạch ra một kế hoạch chi tiết để vượt qua những thác ghềnh này.
Nhưng trước tiên, hãy đọc câu chuyện đầy kịch tính trong gia đình dưới đây,
một hiện tượng như “cơm bữa” ở hàng nghìn hộ gia đình trên toàn nước Mỹ
hàng năm.
Cha mẹ đã chắt chiu và tiết kiệm trong nhiều năm, thậm chí là vài chục năm
để cho con gái của họ học đại học với hy vọng cô có thể ngẩng đầu với thiên
hạ. Khi cô con gái học đại học, cô quyết định chọn chuyên ngành nghệ thuật
kịch hoặc lịch sử nghệ thuật. Một cuộc tranh cãi nảy lửa đã diễn ra trong gia
đình:
Cha mẹ: Nhưng làm thế nào con có thể kiếm sống nhờ chuyên ngành nghệ
thuật (kịch, biên kịch, triết học, văn học, thơ)? Làm gì có nơi nào đăng tuyển
dụng: “Cần tuyển nhân viên chính thức chuyên ngành nghệ thuật”?
Con gái: Nhưng thưa cha mẹ, đây là đam mê của con. Bố mẹ muốn con sống
cuộc đời của một con tàu không người lái, cả ngày ngồi trong xó phòng của
những công ty tẻ ngắt và để năng khiếu nghệ thuật trong con chết dần chết
mòn sao?
Cha mẹ: Đương nhiên, bố mẹ ủng hộ đam mê của con. Bố mẹ chỉ muốn con
có một phương án dự phòng khi nghệ thuật chẳng nuôi sống được con. Con
thông minh và vừa đưa ra một lý lẽ rất thuyết phục, sao con không nghĩ mình
sẽ trở thành một luật sư giống anh họ con, Sue? Lúc ấy, con vừa có thể hoạt
động nghệ thuật khi có thời gian rảnh rỗi. Diễn xuất là nghề tay trái, con ạ.
Con gái: Cha mẹ không hề hiểu con! Cuộc sống không bó gọn trong một
công việc an toàn đến mức tẻ nhạt. Nó lớn lao và ý nghĩa hơn nhiều so với số
tiền mà cha mẹ có trong tài khoản ngân hàng. Cha mẹ sẽ hối tiếc vì đã ngăn
cản con theo đuổi ước mơ của mình, v.v…
Những tranh luận tương tự cũng diễn ra khi những đứa con vừa tốt nghiệp
cấp ba nói với bố mẹ rằng mình không có dự định học đại học hay khi các
sinh viên đại học thông báo cho cha mẹ rằng mình sẽ nghỉ học. Cameron
Johnson, một doanh nhân tự do thành đạt, một tỷ phú tự lập (một sinh viên
bỏ học giữa chừng) đã hai lần tranh cãi với cha mẹ mình tương tự thế.
Lần thứ nhất là khi còn học cấp 3, anh đã nói với cha mẹ rằng mình sẽ không
thi đại học vì anh quá bận rộn với việc xây dựng kế hoạch kinh doanh đang
thành công của mình.
“Michael Dell cũng chẳng có bằng đại học,” tôi nói với bố mẹ mình. “Bill
Gates cũng chẳng có bằng đại học.”
Bố mẹ tôi nói rằng tôi không phải là Michael Dell hay Bill Gates gì hết. Tôi
là con trai họ và họ muốn tôi học hành tử tế.
Cameron đã đuối lý và buộc phải trở thành sinh viên của trường Đại học
Công nghệ Virginia. Tuy nhiên, một thời gian ngắn sau khi nhập học, cuộc
tranh luận thứ hai đã xảy ra khi anh thông báo với cha mẹ việc anh sẽ bỏ học
để đầu tư kinh doanh.
Họ nói: “Không, không thể được!”
Tôi nói rằng: “Bố mẹ xem các ngôi sao bóng rổ đều bước thẳng trường cấp 3
tới NBA4, hay các diễn viên và nhạc sỹ chẳng cần bận tâm tới trường đại
học bởi họ đã sớm dấn bước trên con đường sự nghiệp. Còn cả các doanh
nhân thành đạt, họ chẳng cần đến 4 năm học để tìm hiểu về lĩnh vực của
mình. Nếu mất những 4 năm học, con cũng chỉ dậm chân tại vị trí trước khi
vào đại học, trong khi hiện tại con đang có lợi thế để tiến xa hơn. Đầu tư
những 4 năm trời trong trường đại học nghĩa là 4 năm đó con sống ngoài rìa
thế giới kinh doanh. Trong thời đại Internet bùng nổ bây giờ, mọi thứ thay
đổi đến chóng mặt, các bạn đồng môn khác sẽ chẳng thể đuổi kịp được con.”
Bố tôi lên tiếng: “Học đại học chẳng chết ai.”
Tôi đáp lại: “Con đồng ý, nếu con muốn thì 10 năm nữa học cũng chẳng
muộn.”
Bố nói: “Cameron, con có thể mất nhà, mất công ty, tiền bạc, thậm chí là vợ
con, nhưng không thể thất học. Học vấn là thứ duy nhất không rời bỏ con.”
Tôi đáp lại rằng: “Điều đó đúng nhưng con không đồng ý. Con vẫn đang học
hỏi, tại trường đời. Cho dù con không ngồi trên giảng đường hàng ngày,
nhưng con vẫn học với nhịp độ nhanh hơn các bạn bởi họ phải cố gắng tiếp
thu bài giảng của thầy cô còn con học được chúng bằng cách trải nghiệm
chúng.”
Những tranh luận và các câu chuyện kịch tính kiểu này trong các gia đình,
tôi thấy, chẳng khác nào những tranh luận của chúng ta về sự an toàn với thái
độ anh hùng trong cuộc sống. Sự an toàn và thái độ anh hùng hoàn toàn đối
lập nhau. Hãy tưởng tượng một bộ phim mà nhân vật anh hùng chẳng cần
mạo hiểm hay xông pha gian khó để chớp lấy cơ hội, và bao quanh anh ta là
một lớp nilon bảo vệ để tránh những va chạm và tổn thương thường nhật. Bộ
phim có cảnh anh ta đi bộ trên vỉa hè, vào một ngày nắng đẹp trong lớp vỏ
nilon bao bọc tới một cửa hàng và mua vài nguyên liệu cho bữa tối. Hết
phim!
Liệu bộ phim này có hấp dẫn không?
Trẻ nhỏ luôn muốn tạo dựng ảnh hưởng lớn đến thế giới, muốn thay đổi thế
giới, để tạo ấn tượng về sự tồn tại của mình. Chúng muốn một lý tưởng và sự
nhiệt tình. Chúng muốn trở thành anh hùng. Không đứa trẻ nào muốn là một
nhân viên bàn giấy hay nhân viên văn phòng tẻ nhạt.
Cha mẹ bọn trẻ cũng muốn con cái của mình cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa
và sống thoải mái nhưng họ thấy nghề nghiệp mà chúng mơ ước (nghệ thuật
và giải trí, văn học, viết blog, truyền thông, thể thao, xã hội học và kinh
doanh…) đầy rủi ro.
Về điểm này, bố mẹ của chúng hoàn toàn đúng: Những nỗ lực này tiềm ẩn
đầy rủi ro. Nói cách khác, khả năng thất bại khi theo đuổi các ngành nghề
này rất cao so với lựa chọn trở thành một nha sỹ hay kế toán. Vì thế, với
quyền lực bất khả̉ xâm phạm và thương lượng để bảo vệ và định hướng cho
các con, các ông bố bà mẹ thường hướng các con theo con đường an toàn, ít
rủi ro khi hướng nghiệp cho con. Họ có xu hướng nói về các kế hoạch trù bị
hay những đường thoái lui và cân nhắc về những niềm đam mê của chúng.
Tại sao lại tồn tại mâu thuẫn giữa sự an toàn và tinh thần anh hùng, giữa tầm
ảnh hưởng và sự mờ nhạt? Lý do hết sức đơn giản: theo định nghĩa “gây ảnh
hưởng”, “tạo dựng sự khác biệt” hay “sống có mục đích” liên quan đến việc
thoát khỏi những lề lối đã tồn tại trong bất kỳ một thị trường, tổ chức, lĩnh
vực, vùng miền hay xã hội nào. Nó liên quan đến đổi mới hoặc trải nghiệm
tiên phong. Bryan Franklin mà tôi nhắc đến trong phần Mở đầu đã định
nghĩa khả năng tiên phong là “tạo ra tương lai chưa từng tồn tại cho những
người khác.” Nếu những gì bạn đang cố gắng đạt được không diễn ra theo ý
bạn, thì thật khó để nói rằng bạn đang gây được nhiều ảnh hưởng hay mục
đích của bạn có điểm gì nổi bật.
Ngoài ra, nỗ lực thay đổi hiện tại, gây ảnh hưởng hay sống với niềm đam mê
của bản thân kéo theo những rủi ro về tài chính hơn là k...
 





