Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
KTGKII. KHỐI 11- 2023- 2024

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lệ Tuyến
Ngày gửi: 10h:49' 31-03-2024
Dung lượng: 27.2 KB
Số lượt tải: 111
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lệ Tuyến
Ngày gửi: 10h:49' 31-03-2024
Dung lượng: 27.2 KB
Số lượt tải: 111
Số lượt thích:
0 người
MA TRẬN , BẢNĐẶC TẢ VÀ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ II – KHỐI 11 – 202
1. Ma trận
2. BẢN ĐẶC TẢ CÁC MỨC ĐỘ KIỂM TRA GIỮA KÌ – NGỮ VĂN – KHỐI 11
TT
1
Kĩ năng
Đọc hiểu
Nội
dung/Đơn
vị kiến
thức
Đọc hiểu
văn bản
truyện
ngắn
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức
Mức độ đánh giá(1)
Nhận
biết
Thông
hiểu
Vận
dụng
Nhận biết:
60
- Nhận biết được người kể 1TL
chuyện (ngôi thứ ba hoặc
ngôi thứ nhất), lời người
kể chuyện, lời nhân vật
trong truyện ngắn/ tiểu
thuyết hiện đại.
- Nhận biết được điểm
nhìn, sự thay đổi điểm
nhìn; sự kết nối giữa lời 1TL
người kể chuyện và lời
nhân vật.
Thông hiểu:
- Phân tích được đặc
điểm, vị trí, vai trò của
nhân vật trong truyện
ngắn/ tiểu thuyết hiện đại;
lí giải được ý nghĩa của
nhân vật.
- Phân tích và lí giải được
thái độ và tư tưởng của tác
giả thể hiện trong văn bản.
Vận dụng: Nêu được ý
nghĩa hay tác động của
văn bản tới quan niệm,
cách nhìn của cá nhân với
Vận
dụng
cao
Tỉ
lệ
%
1TL
1TL
1TL
văn học và cuộc sống.
Vận dụng cao: Vận dụng
kinh nghiệm đọc, trải
nghiệm về cuộc sống, hiểu
biết về lịch sử văn học để
nhận xét, đánh giá ý
nghĩa, giá trị của tác
phẩm.
2
Viết
Viết văn
bản nghị
luận về
một vấn
đề xã hội
Nhận biết:
-Xác định được yêu cầu
về nội dung và hình thức
của bài văn nghị luận.
- Xác định rõ mục đích,
đối tượng nghị luận.
- Giới thiệu được vấn đề
xã hội và mô tả được
những dấu hiệu, biểu hiện
của vấn đề xã hội trong
bài viết.
- Đảm bảo cấu trúc, bố
cục của một văn bản nghị
luận.
Thông hiểu:
- Giải thích được những
khái niệm liên quan đến
vấn đề nghị luận.
- Triển khai vấn đề nghị
luận thành những luận
điểm phù hợp.
- Kết hợp được lí lẽ và
dẫn chứng để tạo tính chặt
chẽ, logic của mỗi luận
điểm.
- Đảm bảo chuẩn chính tả,
ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
1TL
1*
1*
1*
40
- Đánh giá được ý nghĩa,
ảnh hưởn của vấn đề đối
với con người, xã hội.
- Nêu được những bài
học, những đề nghị,
khuyến nghị rút ra từ vấn
đề bàn luận.
- Có cách diễn đạt độc
đáo, sáng tạo, hợp logic.
Vận dụng cao:
- Sử dụng kết hợp các
phương thức miêu tả, biểu
cảm; vận dụng hiệu quả
những kiến thức tiếng
Việt lớp 10 để tăng tính
thuyết phục, sức hấp dẫn
cho bài viết.
- Thể hiện rõ quan điểm,
cá tính trong bài viết về
vấn đề xã hội.
Tỉ lệ %
25%
Tỉ lệ chung
45%
70%
20%
10%
30%
10
0
%
3. ĐỀ KIỂM TRA
TRƯỜNG THPT
Họ tên: ………………………… Lớp: ……
(Đề có 02 trang)
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II NĂM HỌC 2023-2024
Môn: Ngữ Văn Khối: 11
Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)
Học sinh làm bài trên giấy làm bài
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
(Lược dẫn: Con Mực là con chó có nhiều tật xấu. Người ta đã định giết thịt nó, nhưng vì nhiều lí
do nên ngày xử con Mực liên tục bị hoãn lại. Cuối cùng, người ta quyết định sẽ giết con Mực để
mừng người con trai tên Du xa nhà nhiều năm nay mới trở về).
Bữa ăn xong, con Hoa cầm bát cơm ra: một tay nó xách cái thúng như để rồi xếp bát. Thấy được
ăn, tất cả thú tính của con Mực hoàn toàn nổi dậy. Nó nhảy tới vẫy đuôi hếch mõm nhìn và đợi.
Cơm vừa đổ xuống nó vội vàng chúi mõm ăn ngay. Miếng chưa qua cổ thì cái thúng đã chụp quanh
trên mình. Nó rít lên, vùng mạnh; nhưng Hoa đã tì cả người lên cái thúng rồi, và con Mực bị thu
gọn ở trong vừa vặn đến nỗi không còn giẫy và kêu được. Lũ trẻ con réo ầm lên. Người ta lấy sẵn
dao thớt và dây để trói. Phần mở thúng đã đành phải về Du: ông chủ đi vắng, cả nhà chỉ có chàng
là đàn ông, mà không lẽ đi mượn hàng xóm trói giùm một con chó đã úp gọn gàng chỉ việc hơi hé
cạp thúng lên, hễ chó thò đầu ra thì một đứa em đặt gậy lên cổ nó để chân chàng dận xuống. Nhưng
tay chàng thấy run run. Và khi con chó vừa thò đầu ra thì nó quẫy luôn một cái mạnh, vùng ra được.
Con Hoa tủm tỉm cười. Lũ em ngơ ngác nhìn theo con chó vừa ẳng ẳng vừa chạy ở ngoài vườn. Còn
Du thì mặt đỏ như gấc chín. Chàng thấy mình yếu tay hơn cả con Hoa. Có lẽ nào chàng lại dịu lòng
hơn cả một người con gái. Và tự nhiên chàng giận con Mực. Người ta còn lo con Mực sợ hãi mà đi
mất. Quả nhiên suốt ngày hôm ấy nó không về. Nó vẩn vơ vườn hàng xóm, lẩn lút như một con chó
trước khi hóa dại.
Người ta tưởng đã mất toi. Nhưng tối hôm ấy nó lần vào gầm giường rồi Du lại nghe thấy cái thứ
tiếng gà gáy của nó rít lên ở phía ngõ.
Sáng hôm sau nó vẫn bỏ cơm. Trưa cũng thế. Và cứ thấy bóng người lại cúp đuôi chạy mất. Du
thương hại sai người đem cơm đổ ra vườn. Một lúc sau Mực lại gần. Nó trông trước trông sau, đưa
mõm rê trên những hạt cơm rồi vô cớ giật mình chạy thẳng. Có lẽ cái kỷ niệm khủng khiếp vừa lóe
ra và đập mạnh vào thần kinh nó như luồng điện. Du thấy bồn chồn và vẩn vơ: thương, hối hận hay
là thẹn.
Sau cùng thì chàng bực mình: chàng nhận ra rằng một con chó đã làm mất sự bình tĩnh của tâm
hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người.
Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết. Còn làm được trò gì nữa nếu chỉ giết một con chó
mà tim cũng đập?
Sự do dự đã hết rồi. Khi có một ý định thì ý định ấy chóng thành mạnh mẽ. Du thấy lòng cứng
cỏi. Ðã có lúc chàng tưởng đến cái thú dí con dao vào súc thịt giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt
vào tay. Và chiều hôm ấy khi thấy con chó ở vườn thì chàng gần như mừng rỡ. Con vật khốn nạn đói
và sợ đã mệt lử đi rồi. Nó hiện ngủ bên bờ giậu. Du cầm cái gậy to rón rén lại gần. Nhưng giơ gậy
lên chàng bỗng thấy tim run một cái. Chàng tưởng như ngạt thở và ngừng lại một giây để nhìn con
chó. Giấc ngủ của nó có lẽ đầy ác mộng vì thỉnh thoảng khắp mình nó lại giật lên. Du thấy lòng quả
quyết tiêu tán hết. Nhưng con chó bỗng giật mình. Du hoảng hốt thẳng cánh vụt mạnh trên mình nó,
bụng nó thót hẳn vào rồi lại phình ra như một khối cao su. Nó rống lên gượng dậy loạng choạng
mấy vòng rồi chui bừa qua giậu trong khi Du vụt cuống cuồng theo xuống đất... Ðêm đã khuya. Du
lại nghe tiếng Mực rống lên. Chàng thấy toát mồ hôi và nhất định không giết con chó nữa.
Nhưng trời gần sáng chàng còn đương mơ mộng, thì đã nghe tiếng Hoa gọi cuống cuồng lên. Con
vật khốn nạn không biết mỏi mệt thế nào mà ngủ quên đi ngay ở giữa sân để đến nỗi bị Hoa úp
được. Lần này thì người ta cẩn thận hơn. Hai ba người nắm vào hai đầu gậy tre ngáng sẵn bên cạnh
thúng rồi Hoa mới hơi hé miệng thúng lên. Thấy sáng con Mực nhô ra ngoài cái mõm ướt phì phì.
Hoa nhích lên tí nữa nhưng một cái gối đã tì sẵn trên thúng. Mực lách cả cái đầu ra. Cái gậy đè
mạnh xuống. Con vật khốn nạn không còn kịp kêu.
- Ðè chặt, thật chặt, đừng buông nó ra nó cắn đấy!
Du kêu lên như thế nhưng tiếng chàng đã hơi run run. Con chó phì một cái nữa: hơi thở mới
thoát ra một nửa bị tắc. Cái gậy đè sát đất, mắt nó trợn lên. Lòng đen ươn ướt cứ đờ dần rồi ngược
lên lần một nửa vào mí trên. Lòng trắng đã hơi đục. Lúc Hoa trói xong cả chân trước, chân sau và
buộc mõm rồi thì con chó đã mềm ra không còn cựa quậy nữa.
Du nghẹn ngào nén khóc...
(Trích Cái chết của con Mực, Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học)
Câu 1. Xác định ngôi kể ? (0.75 điểm)
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? (0.75 điểm)
Câu 3. Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người như thế nào?
(1.5 điểm)
Câu 4. Hình ảnh nhân vật Du « nghẹn ngào nén khóc » gợi cho em cảm xúc như thế nào ? (1.5
điểm)
Câu 5. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống? (1.0
điểm)
Câu 6. Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp gì? (0.5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh (chị) viết bài văn nghị luận bàn về tính trung thực trong học tập của học sinh hiện nay.
III. HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần
I
Câu
1
2
3
4
5
6
II
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỀU
6.0
Người kể chuyện ở ngôi thứ ba
0.75
Điểm nhìn của nhân vật Du
0.75
Nhân vật Du là người có lòng trắc ẩn, người không có chính kiến.
1.5
Hình ảnh Du “nghẹn ngào nén khóc” gợi sự đồng cảm trong lòng người 1.5
đọc. Vì thật sự bản thân Du không có ý định giết chết con Mực nữa,
nhìn thấy con Mực chết thì Du như cảm thấy bất lực, không thể giúp
được con Mực nữa rồi….
HS có thể nêu nhiều ý, miễn sao hợp lí là được.
1.0
Gợi ý: Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo
chính kiến của mình
HS nêu suy nghĩ của bản thân.
0.5
HS trình bày hợp lí, thuyết phục là được.
VIẾT
4.0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
0.25
Mở bài nêu được vấn đề, đưa ra được quan điểm cá nhân. Thân bài
triển khai được vấn đề theo luận điểm. Kết bài khẳng định lại vấn đề,
nêu bài học.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Tính trung thực trong học tập của học
sinh hiện nay
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể trình bày bài viết theo nhiều cách trên cơ sở đảm bảo những
yêu cầu sau:
- Giải thích: Tính trung thực là gì?
- Biểu hiện của tính trung thực trong học tập.
- Ý nghĩa của tính trung thực trong học tập
….
- Nêu ý kiến để bàn luận: Thiếu trung thực, gian lận là không tốt.
d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách
diễn đạt mới mẻ.
TỔNG
10.0 ĐIỂM
0.25
2.5
0.5
0.5
1. Ma trận
2. BẢN ĐẶC TẢ CÁC MỨC ĐỘ KIỂM TRA GIỮA KÌ – NGỮ VĂN – KHỐI 11
TT
1
Kĩ năng
Đọc hiểu
Nội
dung/Đơn
vị kiến
thức
Đọc hiểu
văn bản
truyện
ngắn
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức
Mức độ đánh giá(1)
Nhận
biết
Thông
hiểu
Vận
dụng
Nhận biết:
60
- Nhận biết được người kể 1TL
chuyện (ngôi thứ ba hoặc
ngôi thứ nhất), lời người
kể chuyện, lời nhân vật
trong truyện ngắn/ tiểu
thuyết hiện đại.
- Nhận biết được điểm
nhìn, sự thay đổi điểm
nhìn; sự kết nối giữa lời 1TL
người kể chuyện và lời
nhân vật.
Thông hiểu:
- Phân tích được đặc
điểm, vị trí, vai trò của
nhân vật trong truyện
ngắn/ tiểu thuyết hiện đại;
lí giải được ý nghĩa của
nhân vật.
- Phân tích và lí giải được
thái độ và tư tưởng của tác
giả thể hiện trong văn bản.
Vận dụng: Nêu được ý
nghĩa hay tác động của
văn bản tới quan niệm,
cách nhìn của cá nhân với
Vận
dụng
cao
Tỉ
lệ
%
1TL
1TL
1TL
văn học và cuộc sống.
Vận dụng cao: Vận dụng
kinh nghiệm đọc, trải
nghiệm về cuộc sống, hiểu
biết về lịch sử văn học để
nhận xét, đánh giá ý
nghĩa, giá trị của tác
phẩm.
2
Viết
Viết văn
bản nghị
luận về
một vấn
đề xã hội
Nhận biết:
-Xác định được yêu cầu
về nội dung và hình thức
của bài văn nghị luận.
- Xác định rõ mục đích,
đối tượng nghị luận.
- Giới thiệu được vấn đề
xã hội và mô tả được
những dấu hiệu, biểu hiện
của vấn đề xã hội trong
bài viết.
- Đảm bảo cấu trúc, bố
cục của một văn bản nghị
luận.
Thông hiểu:
- Giải thích được những
khái niệm liên quan đến
vấn đề nghị luận.
- Triển khai vấn đề nghị
luận thành những luận
điểm phù hợp.
- Kết hợp được lí lẽ và
dẫn chứng để tạo tính chặt
chẽ, logic của mỗi luận
điểm.
- Đảm bảo chuẩn chính tả,
ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
1TL
1*
1*
1*
40
- Đánh giá được ý nghĩa,
ảnh hưởn của vấn đề đối
với con người, xã hội.
- Nêu được những bài
học, những đề nghị,
khuyến nghị rút ra từ vấn
đề bàn luận.
- Có cách diễn đạt độc
đáo, sáng tạo, hợp logic.
Vận dụng cao:
- Sử dụng kết hợp các
phương thức miêu tả, biểu
cảm; vận dụng hiệu quả
những kiến thức tiếng
Việt lớp 10 để tăng tính
thuyết phục, sức hấp dẫn
cho bài viết.
- Thể hiện rõ quan điểm,
cá tính trong bài viết về
vấn đề xã hội.
Tỉ lệ %
25%
Tỉ lệ chung
45%
70%
20%
10%
30%
10
0
%
3. ĐỀ KIỂM TRA
TRƯỜNG THPT
Họ tên: ………………………… Lớp: ……
(Đề có 02 trang)
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II NĂM HỌC 2023-2024
Môn: Ngữ Văn Khối: 11
Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)
Học sinh làm bài trên giấy làm bài
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
(Lược dẫn: Con Mực là con chó có nhiều tật xấu. Người ta đã định giết thịt nó, nhưng vì nhiều lí
do nên ngày xử con Mực liên tục bị hoãn lại. Cuối cùng, người ta quyết định sẽ giết con Mực để
mừng người con trai tên Du xa nhà nhiều năm nay mới trở về).
Bữa ăn xong, con Hoa cầm bát cơm ra: một tay nó xách cái thúng như để rồi xếp bát. Thấy được
ăn, tất cả thú tính của con Mực hoàn toàn nổi dậy. Nó nhảy tới vẫy đuôi hếch mõm nhìn và đợi.
Cơm vừa đổ xuống nó vội vàng chúi mõm ăn ngay. Miếng chưa qua cổ thì cái thúng đã chụp quanh
trên mình. Nó rít lên, vùng mạnh; nhưng Hoa đã tì cả người lên cái thúng rồi, và con Mực bị thu
gọn ở trong vừa vặn đến nỗi không còn giẫy và kêu được. Lũ trẻ con réo ầm lên. Người ta lấy sẵn
dao thớt và dây để trói. Phần mở thúng đã đành phải về Du: ông chủ đi vắng, cả nhà chỉ có chàng
là đàn ông, mà không lẽ đi mượn hàng xóm trói giùm một con chó đã úp gọn gàng chỉ việc hơi hé
cạp thúng lên, hễ chó thò đầu ra thì một đứa em đặt gậy lên cổ nó để chân chàng dận xuống. Nhưng
tay chàng thấy run run. Và khi con chó vừa thò đầu ra thì nó quẫy luôn một cái mạnh, vùng ra được.
Con Hoa tủm tỉm cười. Lũ em ngơ ngác nhìn theo con chó vừa ẳng ẳng vừa chạy ở ngoài vườn. Còn
Du thì mặt đỏ như gấc chín. Chàng thấy mình yếu tay hơn cả con Hoa. Có lẽ nào chàng lại dịu lòng
hơn cả một người con gái. Và tự nhiên chàng giận con Mực. Người ta còn lo con Mực sợ hãi mà đi
mất. Quả nhiên suốt ngày hôm ấy nó không về. Nó vẩn vơ vườn hàng xóm, lẩn lút như một con chó
trước khi hóa dại.
Người ta tưởng đã mất toi. Nhưng tối hôm ấy nó lần vào gầm giường rồi Du lại nghe thấy cái thứ
tiếng gà gáy của nó rít lên ở phía ngõ.
Sáng hôm sau nó vẫn bỏ cơm. Trưa cũng thế. Và cứ thấy bóng người lại cúp đuôi chạy mất. Du
thương hại sai người đem cơm đổ ra vườn. Một lúc sau Mực lại gần. Nó trông trước trông sau, đưa
mõm rê trên những hạt cơm rồi vô cớ giật mình chạy thẳng. Có lẽ cái kỷ niệm khủng khiếp vừa lóe
ra và đập mạnh vào thần kinh nó như luồng điện. Du thấy bồn chồn và vẩn vơ: thương, hối hận hay
là thẹn.
Sau cùng thì chàng bực mình: chàng nhận ra rằng một con chó đã làm mất sự bình tĩnh của tâm
hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người.
Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết. Còn làm được trò gì nữa nếu chỉ giết một con chó
mà tim cũng đập?
Sự do dự đã hết rồi. Khi có một ý định thì ý định ấy chóng thành mạnh mẽ. Du thấy lòng cứng
cỏi. Ðã có lúc chàng tưởng đến cái thú dí con dao vào súc thịt giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt
vào tay. Và chiều hôm ấy khi thấy con chó ở vườn thì chàng gần như mừng rỡ. Con vật khốn nạn đói
và sợ đã mệt lử đi rồi. Nó hiện ngủ bên bờ giậu. Du cầm cái gậy to rón rén lại gần. Nhưng giơ gậy
lên chàng bỗng thấy tim run một cái. Chàng tưởng như ngạt thở và ngừng lại một giây để nhìn con
chó. Giấc ngủ của nó có lẽ đầy ác mộng vì thỉnh thoảng khắp mình nó lại giật lên. Du thấy lòng quả
quyết tiêu tán hết. Nhưng con chó bỗng giật mình. Du hoảng hốt thẳng cánh vụt mạnh trên mình nó,
bụng nó thót hẳn vào rồi lại phình ra như một khối cao su. Nó rống lên gượng dậy loạng choạng
mấy vòng rồi chui bừa qua giậu trong khi Du vụt cuống cuồng theo xuống đất... Ðêm đã khuya. Du
lại nghe tiếng Mực rống lên. Chàng thấy toát mồ hôi và nhất định không giết con chó nữa.
Nhưng trời gần sáng chàng còn đương mơ mộng, thì đã nghe tiếng Hoa gọi cuống cuồng lên. Con
vật khốn nạn không biết mỏi mệt thế nào mà ngủ quên đi ngay ở giữa sân để đến nỗi bị Hoa úp
được. Lần này thì người ta cẩn thận hơn. Hai ba người nắm vào hai đầu gậy tre ngáng sẵn bên cạnh
thúng rồi Hoa mới hơi hé miệng thúng lên. Thấy sáng con Mực nhô ra ngoài cái mõm ướt phì phì.
Hoa nhích lên tí nữa nhưng một cái gối đã tì sẵn trên thúng. Mực lách cả cái đầu ra. Cái gậy đè
mạnh xuống. Con vật khốn nạn không còn kịp kêu.
- Ðè chặt, thật chặt, đừng buông nó ra nó cắn đấy!
Du kêu lên như thế nhưng tiếng chàng đã hơi run run. Con chó phì một cái nữa: hơi thở mới
thoát ra một nửa bị tắc. Cái gậy đè sát đất, mắt nó trợn lên. Lòng đen ươn ướt cứ đờ dần rồi ngược
lên lần một nửa vào mí trên. Lòng trắng đã hơi đục. Lúc Hoa trói xong cả chân trước, chân sau và
buộc mõm rồi thì con chó đã mềm ra không còn cựa quậy nữa.
Du nghẹn ngào nén khóc...
(Trích Cái chết của con Mực, Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học)
Câu 1. Xác định ngôi kể ? (0.75 điểm)
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? (0.75 điểm)
Câu 3. Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người như thế nào?
(1.5 điểm)
Câu 4. Hình ảnh nhân vật Du « nghẹn ngào nén khóc » gợi cho em cảm xúc như thế nào ? (1.5
điểm)
Câu 5. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống? (1.0
điểm)
Câu 6. Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp gì? (0.5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh (chị) viết bài văn nghị luận bàn về tính trung thực trong học tập của học sinh hiện nay.
III. HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần
I
Câu
1
2
3
4
5
6
II
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỀU
6.0
Người kể chuyện ở ngôi thứ ba
0.75
Điểm nhìn của nhân vật Du
0.75
Nhân vật Du là người có lòng trắc ẩn, người không có chính kiến.
1.5
Hình ảnh Du “nghẹn ngào nén khóc” gợi sự đồng cảm trong lòng người 1.5
đọc. Vì thật sự bản thân Du không có ý định giết chết con Mực nữa,
nhìn thấy con Mực chết thì Du như cảm thấy bất lực, không thể giúp
được con Mực nữa rồi….
HS có thể nêu nhiều ý, miễn sao hợp lí là được.
1.0
Gợi ý: Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo
chính kiến của mình
HS nêu suy nghĩ của bản thân.
0.5
HS trình bày hợp lí, thuyết phục là được.
VIẾT
4.0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
0.25
Mở bài nêu được vấn đề, đưa ra được quan điểm cá nhân. Thân bài
triển khai được vấn đề theo luận điểm. Kết bài khẳng định lại vấn đề,
nêu bài học.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Tính trung thực trong học tập của học
sinh hiện nay
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể trình bày bài viết theo nhiều cách trên cơ sở đảm bảo những
yêu cầu sau:
- Giải thích: Tính trung thực là gì?
- Biểu hiện của tính trung thực trong học tập.
- Ý nghĩa của tính trung thực trong học tập
….
- Nêu ý kiến để bàn luận: Thiếu trung thực, gian lận là không tốt.
d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách
diễn đạt mới mẻ.
TỔNG
10.0 ĐIỂM
0.25
2.5
0.5
0.5
 





