Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
Tuần 1. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: dương tuan anh
Ngày gửi: 22h:08' 10-09-2024
Dung lượng: 338.1 KB
Số lượt tải: 69
Nguồn:
Người gửi: dương tuan anh
Ngày gửi: 22h:08' 10-09-2024
Dung lượng: 338.1 KB
Số lượt tải: 69
Số lượt thích:
0 người
Chuyện chức phán sự
đền Tản Viên
(trích Truyền kì mạn lục)
I,Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Nguyễn Dữ sống khoảng thế kỉ XVI, chưa
rõ năm sinh năm mất.
- Quê quán: huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương.
- Xuất thân trong gia đình có truyền thống
khoa bảng.
- Bản thân ông từng là học trò giỏi của Trạng
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Dữ thi
đỗ Hương tiến, ra làm quan một năm rồi
cũng từ quan về ở ẩn.
- Để lại tập truyện “Truyền kì mạn lục” (ghi
chép tản mạn về những chuyện kì lạ lưu
truyền trong dân gian)
2. Tác phẩm
a. Thể loại “truyền kì”:
- Truyền kì là thể văn xuôi tự sự thời trung đại, phản ánh
hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường.
Thế giới con người và thế giới
cõi âm với những thánh thần,
ma quỷ có sự tương giao.
Đặc trưng
Đằng sau đó là những chi tiết phi
hiện thực là cốt lõi của hiện thực
xã hội và quan niệm, thái độ của
tác giả được gửi gắm trong đó.
b. Xuất xứ: - Nằm trong tập “Truyền kì mạn lục”
- Gồm 20 truyện ngắn – nửa đầu thế kỉ XVI.
Vạch trần, phê phán những tệ trạng của xã hội phong kiến đương thời.
Nội dung
Sự đồng cảm, thương xót với số phận bi thảm của con người nhỏ bé trong
xã hội, trước những bi kịch tình yêu, mà thiệt thòi thường rơi vào người
phụ nữ.
Thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hóa nước
Việt. Đề cao đạo đức, nhân hậu, thủy chung và khẳng định quan niệm
sống lánh đục về trong của lớp trí thức ẩn dật đương thời, trong đó có tác
giả Nguyễn Dữ.
- Nghệ thuật: Là mẫu mực của thể loại
truyền kì: sử dụng các yếu tố kì ảo đặc sắc.
c. Bố cục:
- Phần 1: từ đầu đến “…. chàng vẫn vung tay không cần gì cả”: Ngô
Tử Văn đốt đền tên tướng giặc họ Thôi.
- Phần 2: tiếp theo đến “…. thầy cũng khó lòng thoát nạn”: Cuộc gặp
gỡ giữa Ngô Tử Văn với tên tướng giặc họ Thôi và với vị Thổ công.
- Phần 3: tiếp theo đến “…Còn ngôi mộ của tên tướng giặc kia thì tự
dưng thấy bị bật tung lên, hài cốt tan tành ra như cám vậy”: Cuộc đấu
tranh giành công lí của Tử Văn ở âm cung.
- Phần 4: còn lại: Ngô Tử Văn được tiến cử giữ chức phán sự đền Tản
Viên.
II. Tìm hiểu tác phẩm
1. Nhân vật Ngô Tử Văn
a. Sự xuất hiện gián tiếp của nhân vật
Ngô Tử Văn xuất hiện ở phần mở đầu của
câu chuyện qua 2 chi tiết:
Qua lời giới thiệu của tác giả:
“Ngô Tử Văn tên là Soạn,
người huyện Yên Dũng, đất
Lạng Giang. Chàng vốn khảng
khái, nóng nảy, thấy sự tà gian
thì không thể chịu được…”.
Qua lời nhận xét của những
người cùng thời: “…vùng Bắc
người ta vẫn khen là một người
cương trực”
-> Qua 2 lời giới thiệu trên đã tạo ấn tượng về nhân vật.
b. Sự xuất hiện trực tiếp của nhân vật
* Sự kiện 1: Ngô Tử Văn đốt đền của tên tướng giặc họ Thôi
- Sự kiện: Vào cuối đời nhà
Hồ, có tên tướng giặc Bách hộ
họ Thôi của giặc Minh – Bách
hộ là chức quan võ chỉ huy
100 quân. Họ Thôi là tên
tướng giặc của nhà Minh đã
sang nước ta xâm lược cuối
thời nhà Hồ. Tên giặc này tử
trận gần đền thờ của vị thổ
công nước Việt. Hắn đã cướp
đền của Thổ công rồi tác oai
tác quái trong dân gian, gây
nhũng nhiễu khiến nhân dân
chịu nhiều khổ cực, oan ức.
Vì vậy, Ngô Tử Văn đã châm
lửa đốt đền, để tiêu trừ hiểm
họa cho nhân dân.
-
Đánh giá về nhân vật Tử Văn:
+ Đây là một hành động dũng cảm: dám đốt đền, trừng
trị hành động tác yêu tác quái của tên Bách hộ họ Thôi.
+ Đây không phải là biểu hiện của sự hung hăng, liều
lĩnh nhất thời vì Tử Văn có sự chuẩn bị: “tắm gội sạch
sẽ, khấn trời rồi mới châm lửa đốt đền.” => Tử Văn tin
tưởng vào hành động của mình là chính nghĩa
=> Ngô Tử Văn có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, tất không
phải là hành động nông nổi nhất thời.
* Sự kiện 2: Cuộc gặp gỡ với tên hung thần
Sự kiện: Sau khi đốt đền, Ngô Tử Văn lên cơn
sốt nóng, sốt rét -> gặp hồn ma tên tướng giặc bại
trận giả danh tên cư sĩ tìm đến. Tìm đến để:
-
+ Dùng nguyên lí đạo Nho để buộc tội “Nhà ngươi
đã theo nghiệp nho, đọc sách vở của thánh hiền, há không biết cái
đức của quỷ thần sao, cớ gì lại dám khinh nhờn hủy tượng, đốt đền,
khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi
hiển hiện” ->buộc
tội theo
+ nguyên lí của đạo nho thì
Tử Văn là người có tội.
+ Lấy oai linh của quỷ thần để hăm dọa: “Biết
điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô cớ hủy đền Lư
Sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ”
-> Mượn điển cố để đe dọa Tử Văn nếu không dựng lại
đền sẽ chết như Cố Thiệu.
+ Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng, tự
nhiên. Không hề run sợ trước lời hăm dọa. ->
Tử Văn rất dũng cảm, tự tin.
- Đánh giá về nhân vật Tử Văn:
+ Thái độ ung dung, thản nhiên, coi
thường lời buộc tội và đe dọa của Tử
Văn không phải là bất cần, liều lĩnh
mà đây là thái độ tự tin của người
nắm chắc trong tay sức mạnh của
chính nghĩa.
+ Khi được vị Thổ Thần can+ ngăn,
Ngô Tử Văn mới hay sức mạnh của
hồn ma tên tướng giặc: tác oai tác
quái khiến vị thổ thần sống lâu năm ở
đây cũng phải ẩn nhẫn, lánh đi nơi
khác.
* Sự kiện 3: Ngô Tử Văn bị đưa xuống cõi âm
- Sự
- Đánh
kiện:giá về
+ Tử Văn
Văn:nhất quyết không dựng lại đền cho hồn ma tên tướng giặc ->
+ Tử Vănđến
sở đêm
dĩ có bệnh
thể cứng
càngcỏi,
ngày
bình
càng
tĩnh
nặng
và can
thêm,
đảm
thấy
như
cóvậy
hailà
tên
nhờ
quỷsựsứtiếp
mang
sức của vị thổ
thừng
thầnlớn,
đấtgông
Việt.dài đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành về phía
=> Tuy nhiên
Đông,
sự trợ
giải
giúp
quanày
cõi chỉ
âmlà
rùng
yếu rợn
tố thứ
có gió
yếu.tanh
Vì nếu
sóng
nóấm,
là chính
hơi lạnh
yếuthấu
thì vị
Thổ Thần đã
xương,
khôngcóphải
đếnchủ
mấyđộng
vạn đến
quỷ gặp
Dạ Xoa
để giãi
đềubày
mắtvới
xanh,
Ngôtóc
Tửđỏ,
Văn.
hình
Chính
dáng
vị Thổ thần đã phải nương tựa ở đền Tản Viên, ẩn nhẫn ngồi xó một nơi đã
nhiều năm. + Diêm Vương chưa biết sự thật, vẫn nghĩ Tử Văn là người có tội, đã
lực của
bềlàtrên
để dũng
quát mắng,
đe dọa,
Tửtính
Văn.
+ Thái độdùng
đó cóuyđược
chủkẻ
yếu
do sự
cảm, cứng
cỏi buộc
trongtội
bản
của Tử Văn. + Tử Văn vẫn rất cứng cỏi tâu trình, kể lại đầu đuôi sự việc: “lời rất
+ Thái độcửng
đó có
được
xuất
phát
từ khát
vọngchút
muốn
thực
thi nhà
côngvua
lí, cũng
làtin…
cỏi,
không
chịu
nhún
nhường
nào:
- Nếu
không
khát vọng chung
nhân
thành
tôi xincủa
chịu
thêmdân,
cái biến
tội nói
càn”quyết tâm sắt đá để từng bước vạch
mặt tên hung thần, đòi lại công lí.
=> Sau đó, Diêm Vương cho người đi chứng thực lời Tử Văn nói,
biết được sự thật và xử án công bằng.
c. Chiến thắng cuối cùng
- Diệt trừ tận gốc cái ác, mang lại an lành cho nhân dân.
+ Cái ác: các phán quan hoặc bị lấp tai che mắt, hoặc do làm việc quan liêu hoặc ăn của
đút lót… bị Diêm Vương mắng mỏ, kết tội.
“Lũ các ngươi chia tòa sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà
không thiên vị, phạt thì đích xác mà không nghiệt ngã, vậy mà còn có sự dối trá càn bậy như thế; huống chi về
đời nhà Hán, nhà Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn nói sao hết được.”
+ Tên hung thần Bách hộ họ Thôi bị đày xuống ngục Cửu U: “Liền sai lấy lồng sắt chụp vào
đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào ngục Cửu U.”
+ Cái ác: các phán quan hoặc bị lấp tai che mắt, hoặc do làm việc quan liêu hoặc ăn của
đút lót… bị Diêm Vương mắng mỏ, kết tội.
“Lũ các ngươi chia tòa sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà
không thiên vị, phạt thì đích xác mà không nghiệt ngã, vậy mà còn có sự dối trá càn bậy như thế; huống chi về
đời nhà Hán, nhà Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn nói sao hết được.”
+ Tên hung thần Bách hộ họ Thôi bị đày xuống ngục Cửu U: “Liền sai lấy lồng sắt chụp vào
đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào ngục Cửu U.”
-> Hình phạt nặng nề nhất cho tội ác ghê gớm nhất.
=> Niềm tin vào chân lí: chính nghĩa nhất định thắng gian tà, kẻ gieo gió ắt gặt bão.
Diệt trừ tận gốc thế lực xâm lược tàn bạo.
+ Hồn ma tên Bách hộ họ Thôi:
Khi còn sống hắn chính là tên tướng giặc cướp nước.
Khi chết: hồn ma xâm chiếm đền miếu, cướp nơi ở của vị Thổ Thần, hưng yêu tác
quái, gây nhũng nhiễu cho nhân dân.
+ Khôi phục lại danh vị cho vị Thổ thần nước Việt.
=> Tác giả tiếp tục thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc.
- Bản thân Tử Văn được đền bù xứng đáng:
+ Được Diêm Vương sai lính đưa trở về cõi dương thế. (Tử Văn chết oan, được
DV cho trở về dương thế, gặp lại và kể câu chuyện kì lạ ấy cho con cháu nghe)
+ NTV có công trừ hại -> được chia 1 nửa xôi lợn của dân cúng tế với vị Thổ thần.
+ Được vị Thổ thần tiến cử giữ chức phán sự đền Tản Viên.
-> khẳng định đạo lí: ở hiền gặp lành, gieo nhân nào gặp quả ấy.
-> khiến người đọc hả hê, khơi gợi niềm tin với người đọc.
-
2. Bức tranh hiện thực và tiếng nói phê phán
a. Bức tranh hiện thực
- Bối cảnh câu chuyện: thời kì giặc Minh
sang xâm lược nước ta. (1407 – 1427).
Thời điểm viết tác phẩm: Nguyễn Dữ viết tác
phẩm vào nửa đầu thế kỉ XVI.
Kẻ ác thì lộng hành, sung sướng; người ở
hiền, lương thiện lại phải chịu oan khuất
Thánh thần ăn của đút để bênh vực cho kẻ ác:
Đền miếu đều tham của đút, bênh vực cho hung
thần khiến cho "rễ ác mọc lan".
Diêm Vương và các phán quan đại diện cho
cán cân công lí bị lấp tai, che mắt.
Triều đình phong kiến bắt đầu đi vào
suy thoái.
Nội chiến Lê – Mạc: Nhà Mạc ướp ngôi nhà Lê,
Tướng của nhà Lê là Nguyễn Kim đã đưa con
của vua Lê lên ngôi hòng phù Lê, giặc Minh
cũng vin cớ "Phù Lê diệt Mạc" mà kéo quân
xâm lược nước ta.
Phơi bày những bất công ngang trái
trong xã hội:
b. Tiếng nói phê phán
Hồn ma tên tướng giặc bại trận:
tham lam, xảo quyệt, hung ác.
Tham lam, bao che cho cái ác hoành
hành: những thánh thần ở các đèn
miếu gần quanh đền của vị Thổ thần.
Người nắm giữ cán cân công lí làm việc
quan liêu, không biết sự thực, bị lấp tai
che mắt. -> Đẩy nhân dân vào tình cảnh
khốn cùng.
-> Bài học răn dạy dành cho những người nắm
chức quyền trong tay: phải công tâm và làm việc
có hiệu quả.
Khi sống, là tướng giặc cướp nước.
Khi chết, hồn ma vất vưởng ở nước Nam vẫn
không từ bỏ giã tâm xâm lược, đã chiếm đền
miếu, giả danh thổ thần đất Việt.
Khi NTV châm lửa đốt đền đã hắn tìm đến,
dùng luận lí đạo nho để kết tội, dùng oai linh
thánh thần để hăm dọa. -> Kiện ở âm phủ, đẩy
Ngô Tử Văn vào cõi chết, khiến chàng bị xếp
vào hàng tội sâu ác nặng, không được khoan
giảm.
Khi xuống dưới âm phủ, trước Diêm Vương đã
buộc tội Tử Văn: “Ấy là trước Vương phủ mà hắn còn
ghê gớm như thế, mồm năm miệng mười, đơm đặt bịa tạc.
Huống hồ ở một nơi đền miếu quạnh hiu hắn sợ gì mà không
dám cho một mồi lửa”.
-> Sau đó hắn tìm cách xoa dịu sự thật khi Tử Văn
đưa ra lí lẽ và chứng cứ.
=> Tên hung thần bị kết tội, đày cuống ngục Cửu U.
Thánh thần ở cõi âm:
III. Tổng kết
1. Giá trị nội dung
- Đề cao tinh thần khảng khái, cương trực dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại
cho dân của Ngô Tử Văn – một trí thức nước Việt.
- Thể hiện niềm tin vào công lí, chính nghĩa nhất định thắng gian tà.
2. Đặc sắc nghệ thuật
- Sử dụng kết hợp yếu tố kì và yếu tố thực:
+ Yếu tố kì ảo -> tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện. (cõi âm, khi chết Ngô Tử
Văn làm quan)
+ Yếu tố thực -> tăng sức thuyết phục cho các sự kiện và nhân vật được kể.
- Xây dựng cốt truyện giàu kịch tính. -> tạo sức lôi cuốn.
IV
Luyện tập
Câu 1 : Đặc điểm nổi bật của truyền kì?
A. Cốt truyện mang màu sắc dân gian hoặc dã sử.
B. Nhân vật xuất hiện theo hàng trạng nhân vật.
C. Sự kết hợp giữa yếu tố kì lạ và yếu tố thực.
D. Lời văn đan xen giữa văn xuôi và thơ.
Câu 2 : Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của
Nguyễn Dữ, Ngô Tử Văn đốt đền vì lí do gì?
A. Vì muốn diệt trừ kẻ giả danh là thần mà lại tác yêu tác
quái trong dân gian.
B. Vì không tin vào điều mê tín, dị đoan.
C. Vì muốn thể hiện thái độ cao ngạo của mình.
D. Vì muốn giúp đỡ viên Thổ công.
Câu 3: Định nghĩa nào đúng với chức Phán sự
trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ?
A. Quan đứng đầu một tổng.
B. Quan xem xét cho vụ kiện tụng, giúp việc cho người xử
án.
C. Quan xét xử các vụ tranh, chấp kiện tụng thời xưa.
D. Quan cai quản một địa phương.
Câu 4: Nhận xét nào dưới đây về Nguyễn Dữ là không chính
xác?
A.Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, từng đi
thi và đã ra làm quan, nhưng không bao lâu thì lui về ở ẩn.
B. Ông là tác giả truyện truyền kì mạn lục nổi tiếng nhất thời
kì văn học trung đại Việt Nam.
C. Ông chưa rõ năm sinh, năm mất, người xã Đỗ Tùng, huyện
Trường Tân, nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
D. Ông sống vào khoảng thế kỉ XVI.
Câu 5 : Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn
Dữ, chi tiết nào đóng vai trò làm nền cho việc triển khai hàng loạt
các chi tiết hoang đường kì ảo?
A.Chi tiết Bách hộ đòi Tử Văn dựng trả ngôi đền.
B. Chi tiết Tử Văn thấy khó chịu, rồi nổi lên một cơn sốt nóng, sốt
rét sau khi đốt đền.
C. Chi tiết lũ quỷ Dạ Xoa đến dẫn Tử Văn xuống âm phủ.
D. Chi tiết viên Thổ công đến nói với Tử Văn sự thực
đền Tản Viên
(trích Truyền kì mạn lục)
I,Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Nguyễn Dữ sống khoảng thế kỉ XVI, chưa
rõ năm sinh năm mất.
- Quê quán: huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương.
- Xuất thân trong gia đình có truyền thống
khoa bảng.
- Bản thân ông từng là học trò giỏi của Trạng
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Dữ thi
đỗ Hương tiến, ra làm quan một năm rồi
cũng từ quan về ở ẩn.
- Để lại tập truyện “Truyền kì mạn lục” (ghi
chép tản mạn về những chuyện kì lạ lưu
truyền trong dân gian)
2. Tác phẩm
a. Thể loại “truyền kì”:
- Truyền kì là thể văn xuôi tự sự thời trung đại, phản ánh
hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường.
Thế giới con người và thế giới
cõi âm với những thánh thần,
ma quỷ có sự tương giao.
Đặc trưng
Đằng sau đó là những chi tiết phi
hiện thực là cốt lõi của hiện thực
xã hội và quan niệm, thái độ của
tác giả được gửi gắm trong đó.
b. Xuất xứ: - Nằm trong tập “Truyền kì mạn lục”
- Gồm 20 truyện ngắn – nửa đầu thế kỉ XVI.
Vạch trần, phê phán những tệ trạng của xã hội phong kiến đương thời.
Nội dung
Sự đồng cảm, thương xót với số phận bi thảm của con người nhỏ bé trong
xã hội, trước những bi kịch tình yêu, mà thiệt thòi thường rơi vào người
phụ nữ.
Thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hóa nước
Việt. Đề cao đạo đức, nhân hậu, thủy chung và khẳng định quan niệm
sống lánh đục về trong của lớp trí thức ẩn dật đương thời, trong đó có tác
giả Nguyễn Dữ.
- Nghệ thuật: Là mẫu mực của thể loại
truyền kì: sử dụng các yếu tố kì ảo đặc sắc.
c. Bố cục:
- Phần 1: từ đầu đến “…. chàng vẫn vung tay không cần gì cả”: Ngô
Tử Văn đốt đền tên tướng giặc họ Thôi.
- Phần 2: tiếp theo đến “…. thầy cũng khó lòng thoát nạn”: Cuộc gặp
gỡ giữa Ngô Tử Văn với tên tướng giặc họ Thôi và với vị Thổ công.
- Phần 3: tiếp theo đến “…Còn ngôi mộ của tên tướng giặc kia thì tự
dưng thấy bị bật tung lên, hài cốt tan tành ra như cám vậy”: Cuộc đấu
tranh giành công lí của Tử Văn ở âm cung.
- Phần 4: còn lại: Ngô Tử Văn được tiến cử giữ chức phán sự đền Tản
Viên.
II. Tìm hiểu tác phẩm
1. Nhân vật Ngô Tử Văn
a. Sự xuất hiện gián tiếp của nhân vật
Ngô Tử Văn xuất hiện ở phần mở đầu của
câu chuyện qua 2 chi tiết:
Qua lời giới thiệu của tác giả:
“Ngô Tử Văn tên là Soạn,
người huyện Yên Dũng, đất
Lạng Giang. Chàng vốn khảng
khái, nóng nảy, thấy sự tà gian
thì không thể chịu được…”.
Qua lời nhận xét của những
người cùng thời: “…vùng Bắc
người ta vẫn khen là một người
cương trực”
-> Qua 2 lời giới thiệu trên đã tạo ấn tượng về nhân vật.
b. Sự xuất hiện trực tiếp của nhân vật
* Sự kiện 1: Ngô Tử Văn đốt đền của tên tướng giặc họ Thôi
- Sự kiện: Vào cuối đời nhà
Hồ, có tên tướng giặc Bách hộ
họ Thôi của giặc Minh – Bách
hộ là chức quan võ chỉ huy
100 quân. Họ Thôi là tên
tướng giặc của nhà Minh đã
sang nước ta xâm lược cuối
thời nhà Hồ. Tên giặc này tử
trận gần đền thờ của vị thổ
công nước Việt. Hắn đã cướp
đền của Thổ công rồi tác oai
tác quái trong dân gian, gây
nhũng nhiễu khiến nhân dân
chịu nhiều khổ cực, oan ức.
Vì vậy, Ngô Tử Văn đã châm
lửa đốt đền, để tiêu trừ hiểm
họa cho nhân dân.
-
Đánh giá về nhân vật Tử Văn:
+ Đây là một hành động dũng cảm: dám đốt đền, trừng
trị hành động tác yêu tác quái của tên Bách hộ họ Thôi.
+ Đây không phải là biểu hiện của sự hung hăng, liều
lĩnh nhất thời vì Tử Văn có sự chuẩn bị: “tắm gội sạch
sẽ, khấn trời rồi mới châm lửa đốt đền.” => Tử Văn tin
tưởng vào hành động của mình là chính nghĩa
=> Ngô Tử Văn có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, tất không
phải là hành động nông nổi nhất thời.
* Sự kiện 2: Cuộc gặp gỡ với tên hung thần
Sự kiện: Sau khi đốt đền, Ngô Tử Văn lên cơn
sốt nóng, sốt rét -> gặp hồn ma tên tướng giặc bại
trận giả danh tên cư sĩ tìm đến. Tìm đến để:
-
+ Dùng nguyên lí đạo Nho để buộc tội “Nhà ngươi
đã theo nghiệp nho, đọc sách vở của thánh hiền, há không biết cái
đức của quỷ thần sao, cớ gì lại dám khinh nhờn hủy tượng, đốt đền,
khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi
hiển hiện” ->buộc
tội theo
+ nguyên lí của đạo nho thì
Tử Văn là người có tội.
+ Lấy oai linh của quỷ thần để hăm dọa: “Biết
điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô cớ hủy đền Lư
Sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ”
-> Mượn điển cố để đe dọa Tử Văn nếu không dựng lại
đền sẽ chết như Cố Thiệu.
+ Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng, tự
nhiên. Không hề run sợ trước lời hăm dọa. ->
Tử Văn rất dũng cảm, tự tin.
- Đánh giá về nhân vật Tử Văn:
+ Thái độ ung dung, thản nhiên, coi
thường lời buộc tội và đe dọa của Tử
Văn không phải là bất cần, liều lĩnh
mà đây là thái độ tự tin của người
nắm chắc trong tay sức mạnh của
chính nghĩa.
+ Khi được vị Thổ Thần can+ ngăn,
Ngô Tử Văn mới hay sức mạnh của
hồn ma tên tướng giặc: tác oai tác
quái khiến vị thổ thần sống lâu năm ở
đây cũng phải ẩn nhẫn, lánh đi nơi
khác.
* Sự kiện 3: Ngô Tử Văn bị đưa xuống cõi âm
- Sự
- Đánh
kiện:giá về
+ Tử Văn
Văn:nhất quyết không dựng lại đền cho hồn ma tên tướng giặc ->
+ Tử Vănđến
sở đêm
dĩ có bệnh
thể cứng
càngcỏi,
ngày
bình
càng
tĩnh
nặng
và can
thêm,
đảm
thấy
như
cóvậy
hailà
tên
nhờ
quỷsựsứtiếp
mang
sức của vị thổ
thừng
thầnlớn,
đấtgông
Việt.dài đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành về phía
=> Tuy nhiên
Đông,
sự trợ
giải
giúp
quanày
cõi chỉ
âmlà
rùng
yếu rợn
tố thứ
có gió
yếu.tanh
Vì nếu
sóng
nóấm,
là chính
hơi lạnh
yếuthấu
thì vị
Thổ Thần đã
xương,
khôngcóphải
đếnchủ
mấyđộng
vạn đến
quỷ gặp
Dạ Xoa
để giãi
đềubày
mắtvới
xanh,
Ngôtóc
Tửđỏ,
Văn.
hình
Chính
dáng
vị Thổ thần đã phải nương tựa ở đền Tản Viên, ẩn nhẫn ngồi xó một nơi đã
nhiều năm. + Diêm Vương chưa biết sự thật, vẫn nghĩ Tử Văn là người có tội, đã
lực của
bềlàtrên
để dũng
quát mắng,
đe dọa,
Tửtính
Văn.
+ Thái độdùng
đó cóuyđược
chủkẻ
yếu
do sự
cảm, cứng
cỏi buộc
trongtội
bản
của Tử Văn. + Tử Văn vẫn rất cứng cỏi tâu trình, kể lại đầu đuôi sự việc: “lời rất
+ Thái độcửng
đó có
được
xuất
phát
từ khát
vọngchút
muốn
thực
thi nhà
côngvua
lí, cũng
làtin…
cỏi,
không
chịu
nhún
nhường
nào:
- Nếu
không
khát vọng chung
nhân
thành
tôi xincủa
chịu
thêmdân,
cái biến
tội nói
càn”quyết tâm sắt đá để từng bước vạch
mặt tên hung thần, đòi lại công lí.
=> Sau đó, Diêm Vương cho người đi chứng thực lời Tử Văn nói,
biết được sự thật và xử án công bằng.
c. Chiến thắng cuối cùng
- Diệt trừ tận gốc cái ác, mang lại an lành cho nhân dân.
+ Cái ác: các phán quan hoặc bị lấp tai che mắt, hoặc do làm việc quan liêu hoặc ăn của
đút lót… bị Diêm Vương mắng mỏ, kết tội.
“Lũ các ngươi chia tòa sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà
không thiên vị, phạt thì đích xác mà không nghiệt ngã, vậy mà còn có sự dối trá càn bậy như thế; huống chi về
đời nhà Hán, nhà Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn nói sao hết được.”
+ Tên hung thần Bách hộ họ Thôi bị đày xuống ngục Cửu U: “Liền sai lấy lồng sắt chụp vào
đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào ngục Cửu U.”
+ Cái ác: các phán quan hoặc bị lấp tai che mắt, hoặc do làm việc quan liêu hoặc ăn của
đút lót… bị Diêm Vương mắng mỏ, kết tội.
“Lũ các ngươi chia tòa sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà
không thiên vị, phạt thì đích xác mà không nghiệt ngã, vậy mà còn có sự dối trá càn bậy như thế; huống chi về
đời nhà Hán, nhà Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn nói sao hết được.”
+ Tên hung thần Bách hộ họ Thôi bị đày xuống ngục Cửu U: “Liền sai lấy lồng sắt chụp vào
đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào ngục Cửu U.”
-> Hình phạt nặng nề nhất cho tội ác ghê gớm nhất.
=> Niềm tin vào chân lí: chính nghĩa nhất định thắng gian tà, kẻ gieo gió ắt gặt bão.
Diệt trừ tận gốc thế lực xâm lược tàn bạo.
+ Hồn ma tên Bách hộ họ Thôi:
Khi còn sống hắn chính là tên tướng giặc cướp nước.
Khi chết: hồn ma xâm chiếm đền miếu, cướp nơi ở của vị Thổ Thần, hưng yêu tác
quái, gây nhũng nhiễu cho nhân dân.
+ Khôi phục lại danh vị cho vị Thổ thần nước Việt.
=> Tác giả tiếp tục thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc.
- Bản thân Tử Văn được đền bù xứng đáng:
+ Được Diêm Vương sai lính đưa trở về cõi dương thế. (Tử Văn chết oan, được
DV cho trở về dương thế, gặp lại và kể câu chuyện kì lạ ấy cho con cháu nghe)
+ NTV có công trừ hại -> được chia 1 nửa xôi lợn của dân cúng tế với vị Thổ thần.
+ Được vị Thổ thần tiến cử giữ chức phán sự đền Tản Viên.
-> khẳng định đạo lí: ở hiền gặp lành, gieo nhân nào gặp quả ấy.
-> khiến người đọc hả hê, khơi gợi niềm tin với người đọc.
-
2. Bức tranh hiện thực và tiếng nói phê phán
a. Bức tranh hiện thực
- Bối cảnh câu chuyện: thời kì giặc Minh
sang xâm lược nước ta. (1407 – 1427).
Thời điểm viết tác phẩm: Nguyễn Dữ viết tác
phẩm vào nửa đầu thế kỉ XVI.
Kẻ ác thì lộng hành, sung sướng; người ở
hiền, lương thiện lại phải chịu oan khuất
Thánh thần ăn của đút để bênh vực cho kẻ ác:
Đền miếu đều tham của đút, bênh vực cho hung
thần khiến cho "rễ ác mọc lan".
Diêm Vương và các phán quan đại diện cho
cán cân công lí bị lấp tai, che mắt.
Triều đình phong kiến bắt đầu đi vào
suy thoái.
Nội chiến Lê – Mạc: Nhà Mạc ướp ngôi nhà Lê,
Tướng của nhà Lê là Nguyễn Kim đã đưa con
của vua Lê lên ngôi hòng phù Lê, giặc Minh
cũng vin cớ "Phù Lê diệt Mạc" mà kéo quân
xâm lược nước ta.
Phơi bày những bất công ngang trái
trong xã hội:
b. Tiếng nói phê phán
Hồn ma tên tướng giặc bại trận:
tham lam, xảo quyệt, hung ác.
Tham lam, bao che cho cái ác hoành
hành: những thánh thần ở các đèn
miếu gần quanh đền của vị Thổ thần.
Người nắm giữ cán cân công lí làm việc
quan liêu, không biết sự thực, bị lấp tai
che mắt. -> Đẩy nhân dân vào tình cảnh
khốn cùng.
-> Bài học răn dạy dành cho những người nắm
chức quyền trong tay: phải công tâm và làm việc
có hiệu quả.
Khi sống, là tướng giặc cướp nước.
Khi chết, hồn ma vất vưởng ở nước Nam vẫn
không từ bỏ giã tâm xâm lược, đã chiếm đền
miếu, giả danh thổ thần đất Việt.
Khi NTV châm lửa đốt đền đã hắn tìm đến,
dùng luận lí đạo nho để kết tội, dùng oai linh
thánh thần để hăm dọa. -> Kiện ở âm phủ, đẩy
Ngô Tử Văn vào cõi chết, khiến chàng bị xếp
vào hàng tội sâu ác nặng, không được khoan
giảm.
Khi xuống dưới âm phủ, trước Diêm Vương đã
buộc tội Tử Văn: “Ấy là trước Vương phủ mà hắn còn
ghê gớm như thế, mồm năm miệng mười, đơm đặt bịa tạc.
Huống hồ ở một nơi đền miếu quạnh hiu hắn sợ gì mà không
dám cho một mồi lửa”.
-> Sau đó hắn tìm cách xoa dịu sự thật khi Tử Văn
đưa ra lí lẽ và chứng cứ.
=> Tên hung thần bị kết tội, đày cuống ngục Cửu U.
Thánh thần ở cõi âm:
III. Tổng kết
1. Giá trị nội dung
- Đề cao tinh thần khảng khái, cương trực dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại
cho dân của Ngô Tử Văn – một trí thức nước Việt.
- Thể hiện niềm tin vào công lí, chính nghĩa nhất định thắng gian tà.
2. Đặc sắc nghệ thuật
- Sử dụng kết hợp yếu tố kì và yếu tố thực:
+ Yếu tố kì ảo -> tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện. (cõi âm, khi chết Ngô Tử
Văn làm quan)
+ Yếu tố thực -> tăng sức thuyết phục cho các sự kiện và nhân vật được kể.
- Xây dựng cốt truyện giàu kịch tính. -> tạo sức lôi cuốn.
IV
Luyện tập
Câu 1 : Đặc điểm nổi bật của truyền kì?
A. Cốt truyện mang màu sắc dân gian hoặc dã sử.
B. Nhân vật xuất hiện theo hàng trạng nhân vật.
C. Sự kết hợp giữa yếu tố kì lạ và yếu tố thực.
D. Lời văn đan xen giữa văn xuôi và thơ.
Câu 2 : Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của
Nguyễn Dữ, Ngô Tử Văn đốt đền vì lí do gì?
A. Vì muốn diệt trừ kẻ giả danh là thần mà lại tác yêu tác
quái trong dân gian.
B. Vì không tin vào điều mê tín, dị đoan.
C. Vì muốn thể hiện thái độ cao ngạo của mình.
D. Vì muốn giúp đỡ viên Thổ công.
Câu 3: Định nghĩa nào đúng với chức Phán sự
trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ?
A. Quan đứng đầu một tổng.
B. Quan xem xét cho vụ kiện tụng, giúp việc cho người xử
án.
C. Quan xét xử các vụ tranh, chấp kiện tụng thời xưa.
D. Quan cai quản một địa phương.
Câu 4: Nhận xét nào dưới đây về Nguyễn Dữ là không chính
xác?
A.Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, từng đi
thi và đã ra làm quan, nhưng không bao lâu thì lui về ở ẩn.
B. Ông là tác giả truyện truyền kì mạn lục nổi tiếng nhất thời
kì văn học trung đại Việt Nam.
C. Ông chưa rõ năm sinh, năm mất, người xã Đỗ Tùng, huyện
Trường Tân, nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
D. Ông sống vào khoảng thế kỉ XVI.
Câu 5 : Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn
Dữ, chi tiết nào đóng vai trò làm nền cho việc triển khai hàng loạt
các chi tiết hoang đường kì ảo?
A.Chi tiết Bách hộ đòi Tử Văn dựng trả ngôi đền.
B. Chi tiết Tử Văn thấy khó chịu, rồi nổi lên một cơn sốt nóng, sốt
rét sau khi đốt đền.
C. Chi tiết lũ quỷ Dạ Xoa đến dẫn Tử Văn xuống âm phủ.
D. Chi tiết viên Thổ công đến nói với Tử Văn sự thực
 





