Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
Điện Biên Phủ - Điểm Hẹn Lịch Sử - Võ Nguyên Giáp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:09' 24-04-2024
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:09' 24-04-2024
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐIỂM HẸN LỊCH SỬ
Chịu trách nhiệm xuất bản: TS PHẠM GIA ĐỨC
Biên tập: ĐỖ TẤT THẮNG
Trình bày: PHẠM VĂN BẢNG
Sửa bản in: NGUYỄN DUY HOÀI
Bìa: LẠC VIỆT
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
23 Lý Nam Đế, Hà Nội, ĐT: 8455766
Cơ quan đại diện tại TP.Hồ Chí Minh, Số 1 Kỳ Đồng, Quận 3, ĐT
(QS): 652165 — (08) 9311953
ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐIỂM HẸN LỊCH SỬ
Bắt đầu in: 7—2001
In xong, nộp lưu chiểu: 8—2001
Khổ sách: 14,5 X 20,5cm
Số trang: 454
Số lượng bản in: 1.000
Giấy phép xuất bản: 10—518/XB—QLXB
In và đóng sách: Xưởng in Bình Hòa
Điện Biên Phủ — Điểm hẹn lịch sử
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp
Hồi Ức
Hữu Mai thể hiện
(In lần thứ 2 có sửa chữa bổ sung)
Chân thành cám ơn các đồng chí:
Trung tướng Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính Trị,
Đại tá Nguyễn Văn Hiếu, nguyên Chánh văn phòng Quân ủy Trung
ương,
Đại tá Hoàng Minh Phương, nguyên phó tư lệnh Quân đoàn 4,
Trưởng đoàn cán bộ phiên dịch Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân
Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ,
Đại tá Đỗ Đức Kiên, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến,
Đại tá, tiến sĩ Phạm Gia Đức, Giám đốc — Tổng biên tập Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân,
Đại tá, Giáo sư Ngô Vi Thiện, thành viên Ban Tổng kết chiến lược Bộ
Quốc phòng,
Thiếu tướng Nguyễn Hữu Lê, nguyên Trưởng phòng Tổng kết kinh
nghiệm chiến tranh Tổng cục Hậu cần,
Đại tá Lê Kinh Lịch, nguyên Trưởng ban Ký sự Tổng cục Chính trị,
Trung tướng, Phó giáo sư Nguyễn Đình Ước, nguyên Viện trưởng
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Đại tá Trần Trọng Trung, nguyên thành viên Ban Tổng kết Bộ Tổng
tham mưu.
đã đọc bản thảo và góp ý kiến.
Trong sách có tham khảo và sử dụng một số tư liệu trong Lịch sử
Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Lịch sử cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 — 1954, Lịch sử Hậu cần
Quân đội nhân dân Việt Nam 1944 — 1954, Lịch sử các đại đoàn,
trung đoàn chủ lực và các quân khu, binh chủng, hồi ký, tự thuật, tư
liệu riêng của một số cán bộ cấp tướng và cấp tá trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp và nhiều sách của phương Tây.
Xin cảm ơn các tác giả, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và các
Nhà xuất bản.
Chương 1: CUỘC HỌP Ở TỈN KEO
1
Cuộc kháng chiến đã sang năm thứ tám. Hạ tuần tháng 5 năm
1953, tôi từ Sầm Nưa về tới khu căn cứ. Những trận mưa đầu mùa đã
bắt đầu. Các đơn vị không được nghỉ ngơi, khẩn trương bắt tay vào
cuộc luyện quân chuẩn bị cho một mùa khô mới: mùa khô 1953 —
1954.
Sắp có một hiệp định ngừng bắn tại Triều Tiên. Hình thái chiến
tranh trên bán đảo Triều Tiên khác hẳn với chiến tranh Việt Nam.
Đây là cuộc đọ sức chủ yếu giữa lực lượng những quân đội chính
quy, được trang bị vũ khí hiện đại, trên một đất nước không rộng
nhưng có hệ thống đường sá tương đối phát triển. Nếu như cuộc
kháng chiến của ta "lấy yếu đánh mạnh" thì ở Triều Tiên là "lấy
mạnh đánh mạnh". Chỉ một thời gian ngắn, quân đội Bắc Triều Tiên
đã tiến xuống Hán Thành, giải phóng phần lớn đất đai ở miền Nam.
Nhưng 80 ngày sau, khi quân can thiệp Mỹ đổ bộ lên Nhân Xuyên
(Inchon), thì quân đội Bắc Triều Tiên buộc phải nhanh chóng rút lui.
Quân Mỹ không những có mặt bên trên vĩ tuyến 38 mà còn tiến tới
sông Áp Lục, đe dọa nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, buộc Giải
phóng quân Trung Quốc phải can thiệp. Quân và dân Bắc Triều Tiên
cùng với Chí nguyện quân Trung Quốc, được Liên Xô chi viện đã đẩy
lùi quân Mỹ và nhiều nước đồng minh về bên kia vĩ tuyến 38. Hai
năm qua, cuộc chiến tranh ở Triều Tiên diễn ra dưới hình thức chiến
tranh đường hầm, những trận đấu pháo dọc vùng rừng núi vĩ tuyến
38, và những trận đánh nhau trên không. Qua nhiều lần đọ sức, Mỹ
đã thấy pháo binh, xe tăng, máy bay hiện đại của mình không thể
giành ưu thế trong cuộc đối đầu với sức mạnh quân sự của các nước
xã hội chủ nghĩa, việc thiết lập thêm một tiền đồn chống cộng ở
Đông Á là vô cùng khó khăn, buộc phải tìm cách kết thúc chiến
tranh.
Nhân dịp các cường quốc đang bàn giải pháp cho chiến tranh
Triều Tiên, trong chính giới Pháp lại xuất hiện ý kiến về một cuộc
điều đình. Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Anbe Xarô (Albert Sarraut),
cựu toàn quyền Đông Dương, nói rõ đây là "cơ hội tốt nhất lúc này
để giải quyết vấn đề Đông Dương với người sẵn sàng điều đình nhất,
nghĩa là với Hồ Chí Minh". Số đông người Pháp từ lâu đã hiểu rõ
nguyện vọng hòa bình thực sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng đó
là hòa bình trên cơ sở độc lập và thống nhất của Việt Nam mà giới
cầm quyền Pháp trong những năm qua chưa thấy buộc phải chấp
nhận.
Pháp không còn đủ sức chịu đựng gánh nặng chiến tranh xâm
lược đã quá kéo dài. Nhưng khác với chiến tranh Triều Tiên, chính
quyền Pháp chưa thấy có gì đe dọa số phận quân viễn chinh đang
làm chủ vùng trời, vùng biển, và hầu hết những thành phố lớn trên
bán đảo Đông Dương. Nguy cơ sụp đổ hồi Đông Xuân 1950 — 1951
đã qua. Với sự giúp đỡ có hạn từ bên ngoài, "quân đoàn tác chiến"
(corps de bataille) của đối phương sẽ không vượt qua con số 6 đại
đoàn bộ binh đơn thuần. Quân viễn chinh vẫn không phải đương
đầu với xe tăng, máy bay, tàu chiến, pháo cao xạ và pháo mặt đất
hiện đại. Họ chỉ cần đối phó với chiến tranh du kích trên chiến
trường đồng bằng, những đội quân nhỏ thường vội vã rút lui khi
những binh đoàn cơ động xuất hiện. Sức mạnh của đối phương là
tác chiến ở vùng rừng núi. Nhưng "chiến lược con nhím" cũng đã
chứng tỏ hiệu quả. Pháp vẫn còn nhiều khả năng tăng cường lực
lượng bằng cách xây dựng quân đội các quốc gia liên kết, và bổ sung
những trang bị hiện đại do Mỹ viện trợ. Giới cầm quyền Pháp đã hết
hy vọng giành chiến thắng, nhưng vẫn tin còn đủ thời gian và điều
kiện để tìm cách kết thúc có lợi, theo cái họ gọi là "lối thoát danh
dự". Mỹ không thể bỏ mặc Pháp ở Đông Dương. Ngày 13 tháng 7
năm 1953, trong cuộc gặp ngoại trưởng Mỹ Đalét (John Foster
Dulles) tại Oasinhtơn, Biđôn (Georges Bidault), bộ trưởng ngoại
giao Pháp nói: "Chúng tôi không thể tiếp tục cuộc thập tự chinh một
mình, tuy nhiên chúng tôi cũng không muốn ngừng lại bằng bất kể
cách nào. Đặc biệt, không có điều đình trực tiếp với Hồ Chí Minh".
Nội các Pháp khủng hoảng liên miên. Những người kế tiếp lên cầm
đầu vẫn thuộc phái hữu.
Như chúng ta đã dự đoán, nếu tình hình Triều Tiên tạm ổn định,
Mỹ sẽ dồn những nỗ lực chống cộng vào Đông Dương.
Ngày 24 tháng 7 năm 1953, thủ tướng chính phủ bù nhìn Nguyễn
Văn Tâm được Tổng thống Aixenhao (Dwight D. Eisenhower) mời
sang Hoa Kỳ. Cuối tháng 7, Aixenhao quyết định dành 400 triệu đô
la cho Đông Dương để "tổ chức một quân đội Việt Nam thực sự".
Pháp đề nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khóa 1953, và
được chấp nhận 385 triệu. Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho
Pháp tại Đông Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng chuyển giao cho Pháp
nhiều trang bị, vũ khí, trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến các
loại.
Ngày 27 tháng 7 năm 1953, hiệp định ngừng bắn ở Triều Tiên
được ký tại Bàn Môn Điếm.
Hăngri Nava (Henri Navarre) tới Sài Gòn ngày 19 tháng 5 năm
1953. Từ khi bắt đầu chiến tranh, nước Pháp đã bẩy lần bổ nhiệm
tổng chỉ huy đội quân viễn chinh. Tôi chỉ thị cho cơ quan tham mưu
tìm hiểu ngay về viên tướng này. Chúng ta chỉ biết được rất ít. Nava
là tướng bốn sao, 55 tuổi, nguyên tham mưu trưởng lục quân Pháp
thuộc khối Bắc Đại Tây Dương đóng ở Trung âu. Nava đã từng phụ
trách công tác tình báo phản gián trong quân đội Pháp, và chỉ huy
một sư đoàn thiết giáp. Báo chí phương Tây ca ngợi Nava như một
"danh tướng" có thể "uốn nắn lại tình hình Đông Dương”.
Ngày 3 tháng 7, Nava trở lại Pari. Chỉ sau hơn một tháng nghiên
cứu tình hình tại chỗ, Nava đã có một kế hoạch đệ trình trước Hội
đồng Tham mưu trưởng và Hội đồng Quốc phòng tối cao Pháp. Lần
đầu trong chiến tranh Đông Dương, một tổng chỉ huy có kế hoạch
chiến lược về quân sự nhằm giành chiến thắng trong hai năm. Nava
đã gây được ấn tượng tốt trong giới quân sự và chính trị Pháp. Trên
báo chí Pháp lại xuất hiện từ ''chiến thắng" đã biến mất cùng với Đờ
Lát (De Lattre de Tassigny). Điều quan trọng hơn, kế hoạch Nava
được Mỹ tán thành. Nó chỉ gặp trở ngại khi bộ trưởng tài chính Phô
(Edgar Faure) nêu ra việc thực thi kế hoạch phải chi ít nhất là 100 tỉ
phrăng. Một con số quá lớn! Ở Hội đồng Tham mưu trưởng cũng
như Hội đồng Quốc phòng, người ta bàn nên bớt cho Nava nhiệm vụ
bảo vệ nước Lào đề ra trong kế hoạch, để giảm bớt chi tiêu. Thống
chế Giăng (Juin), người phát ngôn của các tham mưu trưởng, nhấn
mạnh: cần trao cho Bộ Ngoại giao yêu cầu Mỹ và Anh phải bảo đảm
sự toàn vẹn lãnh thổ của Lào, đồng thời lưu ý Liên Xô và Trung Quốc
nguy cơ xung đột quốc tế có thể diễn ra nếu Lào bị xâm chiếm. Nava
đề nghị chính phủ có quyết định rõ ràng bằng văn bản. Điều đó liên
quan đến trận Điện Biên Phủ, và sẽ làm tốn khá nhiều giấy mực sau
này.
Ngày 2 tháng 8 năm 1953, Nava trở lại Sài Gòn.
Cục Quân báo được chỉ thị gấp rút tìm hiểu kế hoạch Nava.
So với những tướng lĩnh Pháp mà ta đã từng gặp trong chiến
tranh như Lơcléc (Leclerc), Đờ Lát... thì Nava là một tên tuổi mới ít
gây ấn tượng. Nhưng Nava được đặc biệt chú ý vì gắn với một thời
kỳ mới sau cuộc chiến Triều Tiên. Việt Nam đã trở thành nước thứ
mười hai của phe xã hội chủ nghĩa, sẽ nổi lên như một điểm nóng
duy nhất trong cuộc đối đầu giữa Đông và Tây. Mỹ chắc chắn sẽ ra
sức giúp Pháp để cuối cùng, hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương.
Từ năm 1950, chủ nghĩa thực dân mới bắt đầu tranh giành ảnh
hưởng với chủ nghĩa thực dân cũ ở vùng tạm bị chiếm. Một số phần
tử cơ hội chính trị ngả theo Mỹ. Với việc trao "độc lập", "chủ quyền"
cho các quốc gia liên kết, xây dựng một "quân đội quốc gia" bằng tiền
và vũ khí Mỹ nhằm mục tiêu chống cộng, Pháp đã đi vào quá trình
chuyển giao Đông Dương cho Mỹ.
Sau chiến dịch Tây Bắc, cuối năm 1952, bộ đội ta đã tập trung
nghiên cứu đánh tập đoàn cứ điểm. Ta nhận thấy đây có thể là cách
đối phó cuối cùng của địch trước một cuộc tiến công trên địa hình
rừng núi. Nếu diệt được tập đoàn cứ điểm gồm một số tiểu đoàn
quân tinh nhuệ của địch ta sẽ tạo nên bước chuyển biến mới trong
chiến tranh. Bản chất chiến tranh xâm lược buộc quân địch phải
phân tán lực lượng để thực hiện nhiệm vụ chiếm đóng. Một tập đoàn
cứ điểm lớn bị tiêu diệt sẽ kéo theo sự phá sản của chiến lược "chiến
tranh đồn binh" cổ điển của quân xâm lược.
Tuy nhiên, muốn giải quyết một tập đoàn cứ điểm như Nà Sản,
ngoài việc rèn luyện bộ đội, tìm ra chiến thuật thích hợp, cần phải có
sự trợ lực của trọng pháo và pháo cao xạ để giảm nhẹ thương vong
của bộ đội trong một trận đánh dài ngày. Trong quý I năm 1958,
trung đoàn lựu pháo 105 ly do bạn trang bị và huấn luyện đã về
nước. Việc vận chuyển trọng pháo từ Vân Nam về Việt Bắc phải dùng
bè đi theo sông Hồng qua nhiều ghềnh thác. Trung đoàn cao xạ 37 ly
đang được gấp rút chuẩn bị về nhân sự. Trận đánh Nà Sản chỉ có thể
bắt đầu vào mùa khô năm nay. Chúng ta đặt hy vọng vào trận đánh
này, trận đánh giải phóng hoàn toàn vùng rừng núi Tây Bắc. Có thể
là trận đánh bản lề của chiến tranh.
Ngày 17 tháng 7 năm 1953, trời vừa rạng sáng, hai tiểu đoàn dù
Pháp bất thần nhảy xuống thị xã Lạng Sơn. Sau đó một tiểu đoàn dù
khác nhảy xuống Lộc Bình trên đường số 4. Những nơi này đều nằm
sâu trong hậu phương ta. Ở thị xã Lạng Sơn, quân địch lùng sục vào
một số kho vũ khí phá phách rồi vội vã rút theo đường số 4. Tới Lộc
Bình, chúng kết hợp với tiểu đoàn dù ở đây thành một binh đoàn,
tiếp tục đi về phía bờ biển. Một đội quân cơ động đã tiến lên đón
chúng ở Đình Lập với những xe vận tải. Từ đây chúng hành quân
bằng cơ giới về Tiên Yên. Cuộc hành binh chớp nhoáng khiến lực
lượng vũ trang ta không kịp phản ứng. Mấy ngày sau, ta biết đây là
cuộc hành binh Con nhạn (Hirondelle) do đại tá Đuycuốcnô
(Ducournau) chỉ huy. Hành động táo bạo của địch chứng tỏ chúng
nắm chắc sự bố trí sơ khoáng của ta ở một tỉnh giáp giới với Trung
Quốc đã được giải phóng trước đó ba năm.
Ngày 12 tháng 8 năm 1953, tôi nhận được báo cáo quân địch đã
rút khỏi Nà Sản. Một tin hoàn toàn bất ngờ! Toàn bộ quân địch rút
bằng đường không cách đó ba ngày, địch đã khéo nghi binh đánh lừa
ta. Thấy máy bay vận tải xuất hiện nhiều, bộ đội đóng chung quanh
Nà Sản lại tưởng lầm địch tăng cường lực lượng để đối phó với cuộc
tiến công sắp tới. Nava giành thắng lợi đầu tiên bằng một cuộc rút
lui. Về sau chúng ta mới biết: tập đoàn cứ điểm Nà Sản không được
duy trì vì qua chiến dịch Sầm Nưa, nó đã chứng tỏ không có khả
năng ngăn chặn các đại đoàn chủ lực của ta tiến sang Thượng Lào.
Nếu như đòn biệt kích của Nava nhắm vào Lạng Sơn chỉ nhắc ta
đề cao cảnh giác, thì sau khi địch rút quân khỏi Nà Sản, Tổng quân
ủy phải trao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu nhìn lại toàn cục,
nghiên cứu một kế hoạch mới cho mùa khô tới. Chủ trương vẫn là
chủ động tiến công. Phương hướng có thể là giải phóng Lai Châu,
tiến sang giải phóng Thượng Lào, nối liền vùng mới giải phóng với
căn cứ địa Sầm Nưa. Ta tiếp tục nghiên cứu tổ chức một cánh quân
vu hồi, lần này có thể từ Banaphào đánh sang Trung Lào, tiến xuống
Hạ Lào vì ở đây bạn đã có căn cứ địa Lào Ngam khá mạnh.
Mùa khô 1953 — 1954 chỉ mới bắt đầu.
2
Trước khi vào mùa khô 1953—1954, so sánh lực lượng về quân
số, địch đã vượt lên ta khá xa. Tổng quân số của địch là 445.000
người, gồm 146.000 quân Âu Phi (33%) và 299.000 quân ngụy
(67%). Tổng quân số của ta là 252.000 người1. Như vậy, quân địch
đông hơn ta: 193.000 người. Riêng quân ngụy cũng đã đông hơn ta:
47.000 người.
Thời gian trước mắt, quân số cũng như trang bị của lực lượng ta
đã tới giới hạn. Về phía địch, với hứa hẹn của Mỹ năm 1954 sẽ tăng
viện trợ quân sự cho Đông Dương lên gấp đôi, Pháp còn khả năng
tăng quân số, có thêm nhiều vũ khí hiện đại và những phương tiện
chiến tranh mới. Có thể nói: Trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế
quốc, chúng ta sẽ không bao giờ có được lực lượng vật chất mạnh
hơn địch, không chỉ riêng về vũ khí, mà cả số quân. Ta phải chấp
nhận thực tế đó để tìm cách giành chiến thắng.
Lực lượng cụ thể của địch và ta lúc này như sau:
Về bộ binh, địch có 267 tiểu đoàn. Về pháo binh, Pháp có 25 tiểu
đoàn; ngụy có 8 tiểu đoàn. Về cơ giới, Pháp có 10 trung đoàn, 6 tiểu
đoàn và 10 đại đội; ngụy có 1 trung đoàn và 7 đại đội. Về không quân,
Pháp có 580 máy bay; ngụy có 25 máy bay thám thính và liên lạc. Về
hải quân, Pháp có 391 tàu; ngụy có 104 tàu loại nhỏ và 8 tàu ngư lôi.
Lực lượng ta vẫn đơn thuần là bộ binh, gồm 6 đại đoàn, 18 trung
đoàn và 19 tiểu đoàn. Về pháo binh, ta có 2 trung đoàn, 8 tiểu đoàn
và 4 đại đội. Về phòng không, ta có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn.
Tính theo số tiểu đoàn bộ binh, ta có tổng cộng 127 tiểu đoàn so
với 267 tiểu đoàn của địch. Biên chế tiểu đoàn của ta là: 635 người;
biên chế tiểu đoàn địch từ 800 — 1.000 người.
Tuy nhiên, bên cạnh bộ đội chủ lực và địa phương, trên cả nước
ta đã có khoảng hai triệu dân quân, du kích. Đây là lực lượng nửa vũ
trang, chủ yếu bám sát các làng xã, thị trấn, thành phố ở vùng tạm bị
chiếm và vùng tranh chấp, đối phó với bộ máy và lực lượng đàn áp,
kìm kẹp của địch, chống càn, hỗ trợ đắc lực cho bộ đội chủ lực trong
mỗi trận đánh cũng như các chiến dịch. Theo lời Bác, đây chính là
bức tường sắt mà kẻ địch nào đụng vào cũng phải tan. Lực lượng này
còn là nguồn bổ sung vô cùng quý giá cho đội quân chủ lực.
Sự chênh lệch về quân số, vũ khí, trang bị không hoàn toàn phản
ánh sức mạnh của đôi bên trong cuộc chiến. Địch tuy có ưu thế vượt
trội về binh lực, nhưng chiến tranh nhân dân của ta đã làm cho quân
địch phải phân tán trên khắp các chiến trường. Không những chúng
không thể tập trung toàn bộ ưu thế đó vào một trận đánh quyết định,
mà cũng chưa đủ lực lượng để mở một cuộc tiến công lớn vào các
đại đoàn chủ lực ta trên miền Bắc. Trong tổng số 267 tiểu đoàn của
địch, thì 185 tiểu đoàn đã phải trực tiếp làm nhiệm vụ chiếm đóng,
chỉ còn 82 tiểu đoàn làm nhiệm vụ cơ động chiến thuật và chiến
lược. Già nửa lực lượng cơ động địch, 44 tiểu đoàn, phải tập trung
trên miền Bắc để đối phó với chủ lực ta. Vào thời điểm này, nếu tính
chung trên chiến trường Bắc Bộ, lực lượng ta mới bằng 2/3 lực
lượng địch (76 tiểu đoàn/112 tiểu đoàn), nhưng tính riêng lực lượng
cơ động chiến lược, thì lực lượng ta đã vượt hơn địch về số tiểu
đoàn (56/44)2. Điều này rất có ý nghĩa trước khi bước vào mùa khô
mới.
Mọi cố gắng của Pháp và Mỹ vẫn chưa cải thiện được tình thế của
Pháp trong chiến tranh xâm lược. Phương Tây đã ra sức tô vẽ cuộc
"chiến tranh bẩn thỉu" thành cuộc "Thập tự chinh chống cộng",
nhưng vẫn không vực được sự sa sút về tinh thần của quân viễn
chinh, đặc biệt là quân ngụy lúc này đã chiếm tỉ lệ lớn trong hàng
ngũ địch. Binh lính không hiểu chiến đấu cho ai và chiến đấu để làm
gì? Trong khi đó, những cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân mùa hè đã
nâng cao lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết chiến đấu và ý thức giai
cấp trong quân đội, rèn luyện thêm về kỹ thuật, chiến thuật, mang lại
cho cán bộ, chiến sĩ tinh thần náo nức thi đua chiến đấu lập công.
Từ năm 1950, chúng ta vẫn giữ quyền chủ động trên chiến trường
chính Bắc Bộ.
Hạ tuần tháng Chín năm 1953, các đồng chí Trung Quốc chuyển
cho ta một bản kế hoạch Nava với cả bản đồ do cơ quan tình báo của
bạn thu thập được. Nava chủ trương xúc tiến chính sách mới của
Chính phủ Pháp là trao "chủ quyền" và "độc lập" cho các quốc gia
liên kết, nhằm phát triển các "quân đội quốc gia" thành một lực
lượng lớn mạnh. Đây là cách duy nhất giúp Pháp giải quyết vấn đề
quân số thiếu hụt, không thể lấy thêm từ chính quốc, đồng thời tạo
điều kiện cho Nava gấp rút tổ chức một lực lượng cơ động chiến
lược mạnh để thoát khỏi tình trạng phòng ngự bị động, tiến tới
giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính. Pháp dựa vào Mỹ
để tiếp tục chiến tranh vì lợi ích của bản thân mình, chứ không phải
để cho Mỹ thay thế Pháp ở Đông Dương. Muốn được như vậy đội
quân viễn chinh phải giành được một thắng lợi quân sự quyết định.
Kế hoạch Nava về đại thể chia làm hai bước:
— Trong Thu Đông năm 1953 và mùa Xuân năm 1954, giữ thế
phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tập trung một lực lượng cơ động
lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với cuộc tiến công của ta; thực
hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng ba tỉnh tự
do ở đồng bằng Liên khu 5; đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng quân
ngụy và xây dựng một đội quân cơ động lớn đủ sức đánh bại các đại
đoàn chủ lực của ta.
— Từ Thu Đông năm 1954, sau khi đã hoàn thành những mục tiêu
trên, sẽ dồn toàn lực ra Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên
chiến trường chính giành thắng lợi lớn về quân sự, buộc ta phải chấp
nhận điều đình theo những điều kiện của Pháp, nếu ta khước từ,
quân cơ động chiến lược của địch sẽ tập trung mọi nỗ lực loại trừ
chủ lực ta.
Để có đủ lực lượng thực hiện kế hoạch, Nava chủ trương dùng ba
biện pháp: phát triển các "quân đội quốc gia" theo quy mô rộng lớn;
rút một bộ phận lực lượng chiếm đóng tăng cường cho lực lượng cơ
động chiến lược; xin tăng viện từ Pháp sang.
Sau này ta biết thêm, Nava dự tính tổ chức ngay trong năm 1953,
84 tiểu đoàn khinh quân ngụy, và năm 1954, sẽ tăng lực lượng này
lên gấp đôi, 168 tiểu đoàn. Như vậy, quân ngụy sẽ có gần 30 vạn,
không kể số quân ngụy nằm trong quân viễn chinh. Về lực lượng cơ
động chiến lược, Nava dự định trong thời gian 1953—1954, sẽ xây
dựng 27 binh đoàn cơ động3, trong đó có 1 sư đoàn quân nhảy dù.
Kế hoạch Nava là sự cụ thể hóa những ý tưởng của Đờ Lát đờ
Tátxinhi trước đây thành một chương trình hành động trong tình
hình mới. Đông Dương đã trở thành điểm nóng duy nhất trong chiến
tranh lạnh. Nó mang tầm vóc chiến lược, tiềm ẩn những nguy cơ lâu
dài đối với ta, và được Mỹ coi như một bước thực hiện những mưa
đồ của chính mình sau thất bại tại Triều Tiên. Các phái đoàn quân sự
Mỹ liên tiếp đến Sài Gòn, đốc thúc, giám sát viện thực hiện kế hoạch.
Viện trợ quân sự Mỹ cho Pháp đã chiếm 73% chi phí chiến tranh
Đông Dương. Pháp lợi dụng sự giúp đỡ của Mỹ để duy trì những
quyền lợi của mình trên bán đảo. Mỹ dùng viện trợ gạt dần Pháp để
trở thành người thay thế Pháp. Lúc này, cả Pháp và Mỹ gặp nhau
trong mục tiêu giành một chiến thắng quân sự quyết định, buộc ta
phải chấp nhận kết thúc cuộc chiến theo những điều kiện do họ đặt
ra.
Đồng chí Vi Quốc Thanh về nước mới sang, cùng tôi lên Khuổi
Tát gặp Bác. Sau khi nghe trình bày kế hoạch của địch, Bác nói:
"Nava rất nhiều tham vọng, muốn giành chiến thắng lớn về quân sự.
Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch
muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải
phân tán mà đánh!”.
Tôi và đồng chí Vi Quốc Thanh nhất trí mở những cuộc tiến công
nhắm vào những chiến trường hiểm yếu mà địch yếu, hoặc tương
đối yếu, nhưng lại không thể bỏ, là cách tốt nhất buộc địch phải phân
tán lực lượng. Cũng nhất trí về hướng Lai Châu, hướng Trung và Hạ
Lào. Sẽ giao cho cơ quan tham mưu bàn cụ thể với các bạn Lào một
kế hoạch phối hợp chiến đấu trong mùa khô nghiên cứu vấn đề điều
động và sử dụng lực lượng tương đối hoàn chỉnh, để đưa trình cuộc
họp Bộ Chính trị sắp tới.
Ngay sau khi nhậm chức, Nava đã nêu cao những khẩu hiệu:
"luôn luôn chủ động", "luôn luôn tiến công”.
Trong mùa Hè và mùa Thu năm 1953, địch liên tiếp mở hàng
chục cuộc hành quân càn quét dữ dội vùng tạm bị chiếm ở Bắc Bộ,
Bình — Trị — Thiên và Nam Bộ. Chúng ra sức đánh phá những căn
cứ du kích, dồn dân vào các khu tập trung để kiểm soát, phá hoại
kinh tế, vây bắt thanh niên và dùng mọi thủ đoạn để thực hiện kế
hoạch mở rộng quân ngụy. Tuy nhiên, lực lượng vũ trang và nhân
dân ta ở hậu địch đã quen đối phó với những cuộc càn quét loại này.
Một sĩ quan trong tổng hành dinh của Nava đã nhận xét: "Tại Bình —
Trị — Thiên tháng 7 năm 1953, tướng Lơblăng (Leblanc) tổ chức
cuộc càn..., ông ta cất vó nhưng không thu được kết quả nào. Trung
đoàn 95 đã lọt qua lỗ vó chỉ để lại vài chỗ vướng rách... Những cuộc
càn quét ở Bắc Bộ... đã thu hút những phương tiện tối đa và tốt nhất,
nhưng lại chỉ thu được những kết quả tối thiểu".
Những hoạt động đầu tiên chứng tỏ Nava là một tổng chỉ huy
năng động, táo bạo, quá tự tin và khá chủ quan. Lúc này ta đã nắm
được mùa khô 1953—1954, địch sẽ đánh vào ba tỉnh tự do Liên khu
5, để mở đầu cuộc tiến công ở miền Nam như trong kế hoạch. Trên
miền Bắc, địch chủ trương giữ thế phòng ngự, nhưng không có nghĩa
chúng chỉ tập trung lực lượng ở đồng bằng chờ đón cuộc tiến công.
Chúng ta cần có kế hoạch phá vỡ âm mưu của địch trên chiến trường
cả nước. Sau khi địch rút khỏi Nà Sản, cơ quan tham mưu của ta đã
gặp khó khăn trong việc chọn hướng tiến công chiến lược.
Trong mùa Hè và mùa Thu, các đại đoàn chủ lực tiếp tục học tập
chiến thuật công kiên và đánh vận động.
Về công kiên, học đánh tập đoàn cứ điểm và đánh công sự mới
(bunker). Từ những kinh nghiệm thu được ở Hòa Bình, Nà Sản, kết
hợp với những kinh nghiệm của bạn, đặc biệt là chiến dịch Hoài Hải,
chúng ta đã nhận thấy có hai cách đánh tập đoàn cứ điểm: Một là,
dùng toàn bộ lực lượng đánh cùng một lúc. Một mũi đột kích mạnh
chọc sâu vào sở chỉ huy của tập đoàn cứ điểm, giống như một lưỡi
gươm xọc vào tim địch, tạo nên sự rối loạn ngay từ bên trong.
Những mũi khác sẽ nhằm những hướng địch sơ hở, đánh đồng thời,
tạo nên sự rối loạn ở cả bên trong và bên ngoài. Ta gọi đó là cách
"đánh nhanh giải quyết nhanh". Hai là, tiêu diệt dần từng trung tâm
đề kháng, từng cứ điểm từ ngoài vào trong, thu hẹp phạm vi chiếm
đóng cho tới lúc địch không còn sức kháng cự. Cách đánh này cần
một thời gian chuẩn bị và chiến đấu dài ngày tùy theo khả năng đối
phó của địch và sức mạnh công kích của ta, thường gọi là "đánh chắc
tiến chắc", cũng còn được gọi là "đánh bóc vỏ". Qua học tập, các đơn
vị đã nhận thấy không phải bộ đội ta không có khả năng tiêu diệt
"con nhím".
Về vận động, học đánh địch đang vận động hoặc mới chiếm lĩnh
trận địa có máy bay, pháo binh, cơ giới yểm hộ chặt chẽ. Bộ đội được
luyện tập đánh cả ban ngày và ban đêm. Trung đoàn lựu pháo 105 ly
đầu tiên của ta, gồm 24 khẩu pháo Mỹ với 3.600 viên đạn, đã có mặt
ở Bắc Mục, Tuyên Quang, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu. Đây là
hỏa lực mạnh nhất của quân đội ta lúc này. Trung đoàn lựu pháo
nằm trong đội hình của đại đoàn công pháo 351. Riêng trung đoàn
pháo cao xạ 37 ly, do Liên Xô trang bị, mới thành lập từ tháng 9 năm
1953, chỉ có thể có mặt vào cuối năm.
Sau thời gian học tập, bắt đầu vào mùa khô, các đơn vị đều nóng
lòng chờ lệnh lên đường.
Nhưng đánh địch ở đâu? Suốt tháng Tám, cơ quan tham mưu
trăn trở với câu hỏi này. Trên chiến trường chính Bắc Bộ chỉ có hai
hướng là đồng bằng và rừng núi. Ta chưa thể mở một cuộc tiến công
lớn ở đồng bằng, nơi Nava đã bày sẵn thế trận và ta chưa có khả
năng hạn chế sức mạnh của máy bay và pháo địch. Do đó ở đồng
bằng vẫn phải tiến hành chiến tranh du kích kết hợp với vận động
đánh nhỏ của bộ đội chủ lực. Còn ở rừng núi? Trên toàn bộ vùng
thượng du phía bắc, chỉ có hai ngàn quân địch ở Lai Châu. Không
cần tới một lực lượng lớn để tiêu diệt số quân này. Có thể mở tiếp
một chiến dịch ở Thượng Lào? Nhưng sau khi giải phóng Sầm Nưa,
tuyến đường tiếp tế vốn đã xa lại càng xa. Và cũng không thể đưa
phần lớn các đại đoàn chủ lực của ta sang Thượng Lào, trong lúc già
nửa số quân cơ động của Nava đang tập trung ở đồng bằng sẵn sàng
khai thác mỗi sơ hở ở hậu phương ta!
Tôi và anh Thái cùng bàn bạc với các đồng chí cố vấn xây dựng
một kế hoạch đánh địch ở nhiều hướng buộc địch phải phân tán đối
phó, nhằm trước hết là phá thế tập trung binh lực của địch ở đồng
bằng. Cuối tháng 8 năm 1953, Bộ Tổng tham mưu báo cáo với Tổng
quân ủy một bản kế hoạch tác chiến với bốn nhiệm vụ:
1. Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu phá tan âm mưu bình
định của địch, phá kế hoạch mở rộng quân ngụy.
2. Bộ đội chủ lực dùng phương thức hoạt động thích hợp tiêu diệt
từng bộ phận sinh lực địch, có thể tác chiến lớn trên chiến trường
đồng bằng để rèn luyện bộ đội.
3. Có kế hoạch bố trí lực lượng tiêu diệt địch khi chúng đánh ra
vùng tự do.
4. Tăng cường hoạt động lên hướng Tây Bắc (Lai Châu), Thượng
Lào và các chiến trường khác để phân tán chủ lực địch.
Về sử dụng binh lực, Bộ Tổng tham mưu dự kiến:
— Mặt trận Tây Bắc và Thượng Lào, có đại đoàn 316 và trung
đoàn 148.
— Mặt trận Trung Du có từ 2 tới 3 đại đoàn và bộ đội địa phương.
— Mặt trận Hữu Ngạn Liên khu 3, có 2 đại đoàn, trong đó, một bộ
phận vào địch hậu.
— Mặt trận Tây Nguyên có các trung đoàn chủ lực của Liên khu 5.
Đây là phác thảo đầu tiên kế hoạch tác chiến chiến cục Đông
Xuân 1953—1954.
3
Một buổi sáng đầu tháng 10 năm 1953, tôi từ cơ quan Bộ Tổng tư
lệnh đi dự cuộc họp bàn về kế hoạch tác chiến Đông — Xuân 1953—
1954 do Bộ Chính trị triệu tập. Mùa Thu năm nay đến với những lo
âu và hy vọng. Không khí có phần căng thẳng. Không năm nào vào
thời gian này, những đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường lại chưa lên
đường. Ta vẫn chưa xác định trận đánh lớn trong mùa khô sẽ nổ ra ở
đâu.
Từ Điềm Mặc tới Lục Giã, đi ngựa khoảng vài giờ. Trời mưa. Con
đường mòn lầy lội chạy dưới chân núi Hồng, qua những rừng vầu,
những thửa ruộng bậc thang, những bản nhỏ thưa thớt.
Nửa buổi sáng, tới Tỉn Keo, một bản của thôn Lục Giã, nằm ở
chân núi. Từ đây có đường sang Tân Trào qua Đèo Gie. Lên một
đoạn dốc không xa, đã nhìn thấy ngôi nhà tre nhỏ lấp ló bên sườn
núi, giữa rừng vầu. Bác ở Khuổi Tát, một bản người Dao, tận trên
đỉnh núi. Ngôi nhà này là nơi Bác thường đến họp với Bộ Chính trị.
Từ năm 1951, phần lớn các cơ quan trung ương đều ở Định Hóa,
Thái Nguyên. Nhiều làng bản, số cán bộ, bộ đội nhân viên cơ quan
đông hơn dân địa phương. Máy bay địch săm soi, đánh phá nhiều
lần vẫn không trúng các cơ quan. Chắc chúng không ngờ "chùa rách
bụt vàng", những bản làng nghèo nàn, vắng vẻ này lại chứa đựng bộ
phận đầu não của kháng chiến.
Những cánh cửa sổ bằng nứa đã được chống cao. Trong nhà có
một bàn tre rộng và mấy chiếc ghế ghé...
Chịu trách nhiệm xuất bản: TS PHẠM GIA ĐỨC
Biên tập: ĐỖ TẤT THẮNG
Trình bày: PHẠM VĂN BẢNG
Sửa bản in: NGUYỄN DUY HOÀI
Bìa: LẠC VIỆT
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
23 Lý Nam Đế, Hà Nội, ĐT: 8455766
Cơ quan đại diện tại TP.Hồ Chí Minh, Số 1 Kỳ Đồng, Quận 3, ĐT
(QS): 652165 — (08) 9311953
ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐIỂM HẸN LỊCH SỬ
Bắt đầu in: 7—2001
In xong, nộp lưu chiểu: 8—2001
Khổ sách: 14,5 X 20,5cm
Số trang: 454
Số lượng bản in: 1.000
Giấy phép xuất bản: 10—518/XB—QLXB
In và đóng sách: Xưởng in Bình Hòa
Điện Biên Phủ — Điểm hẹn lịch sử
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp
Hồi Ức
Hữu Mai thể hiện
(In lần thứ 2 có sửa chữa bổ sung)
Chân thành cám ơn các đồng chí:
Trung tướng Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính Trị,
Đại tá Nguyễn Văn Hiếu, nguyên Chánh văn phòng Quân ủy Trung
ương,
Đại tá Hoàng Minh Phương, nguyên phó tư lệnh Quân đoàn 4,
Trưởng đoàn cán bộ phiên dịch Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân
Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ,
Đại tá Đỗ Đức Kiên, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến,
Đại tá, tiến sĩ Phạm Gia Đức, Giám đốc — Tổng biên tập Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân,
Đại tá, Giáo sư Ngô Vi Thiện, thành viên Ban Tổng kết chiến lược Bộ
Quốc phòng,
Thiếu tướng Nguyễn Hữu Lê, nguyên Trưởng phòng Tổng kết kinh
nghiệm chiến tranh Tổng cục Hậu cần,
Đại tá Lê Kinh Lịch, nguyên Trưởng ban Ký sự Tổng cục Chính trị,
Trung tướng, Phó giáo sư Nguyễn Đình Ước, nguyên Viện trưởng
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Đại tá Trần Trọng Trung, nguyên thành viên Ban Tổng kết Bộ Tổng
tham mưu.
đã đọc bản thảo và góp ý kiến.
Trong sách có tham khảo và sử dụng một số tư liệu trong Lịch sử
Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Lịch sử cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 — 1954, Lịch sử Hậu cần
Quân đội nhân dân Việt Nam 1944 — 1954, Lịch sử các đại đoàn,
trung đoàn chủ lực và các quân khu, binh chủng, hồi ký, tự thuật, tư
liệu riêng của một số cán bộ cấp tướng và cấp tá trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp và nhiều sách của phương Tây.
Xin cảm ơn các tác giả, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và các
Nhà xuất bản.
Chương 1: CUỘC HỌP Ở TỈN KEO
1
Cuộc kháng chiến đã sang năm thứ tám. Hạ tuần tháng 5 năm
1953, tôi từ Sầm Nưa về tới khu căn cứ. Những trận mưa đầu mùa đã
bắt đầu. Các đơn vị không được nghỉ ngơi, khẩn trương bắt tay vào
cuộc luyện quân chuẩn bị cho một mùa khô mới: mùa khô 1953 —
1954.
Sắp có một hiệp định ngừng bắn tại Triều Tiên. Hình thái chiến
tranh trên bán đảo Triều Tiên khác hẳn với chiến tranh Việt Nam.
Đây là cuộc đọ sức chủ yếu giữa lực lượng những quân đội chính
quy, được trang bị vũ khí hiện đại, trên một đất nước không rộng
nhưng có hệ thống đường sá tương đối phát triển. Nếu như cuộc
kháng chiến của ta "lấy yếu đánh mạnh" thì ở Triều Tiên là "lấy
mạnh đánh mạnh". Chỉ một thời gian ngắn, quân đội Bắc Triều Tiên
đã tiến xuống Hán Thành, giải phóng phần lớn đất đai ở miền Nam.
Nhưng 80 ngày sau, khi quân can thiệp Mỹ đổ bộ lên Nhân Xuyên
(Inchon), thì quân đội Bắc Triều Tiên buộc phải nhanh chóng rút lui.
Quân Mỹ không những có mặt bên trên vĩ tuyến 38 mà còn tiến tới
sông Áp Lục, đe dọa nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, buộc Giải
phóng quân Trung Quốc phải can thiệp. Quân và dân Bắc Triều Tiên
cùng với Chí nguyện quân Trung Quốc, được Liên Xô chi viện đã đẩy
lùi quân Mỹ và nhiều nước đồng minh về bên kia vĩ tuyến 38. Hai
năm qua, cuộc chiến tranh ở Triều Tiên diễn ra dưới hình thức chiến
tranh đường hầm, những trận đấu pháo dọc vùng rừng núi vĩ tuyến
38, và những trận đánh nhau trên không. Qua nhiều lần đọ sức, Mỹ
đã thấy pháo binh, xe tăng, máy bay hiện đại của mình không thể
giành ưu thế trong cuộc đối đầu với sức mạnh quân sự của các nước
xã hội chủ nghĩa, việc thiết lập thêm một tiền đồn chống cộng ở
Đông Á là vô cùng khó khăn, buộc phải tìm cách kết thúc chiến
tranh.
Nhân dịp các cường quốc đang bàn giải pháp cho chiến tranh
Triều Tiên, trong chính giới Pháp lại xuất hiện ý kiến về một cuộc
điều đình. Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Anbe Xarô (Albert Sarraut),
cựu toàn quyền Đông Dương, nói rõ đây là "cơ hội tốt nhất lúc này
để giải quyết vấn đề Đông Dương với người sẵn sàng điều đình nhất,
nghĩa là với Hồ Chí Minh". Số đông người Pháp từ lâu đã hiểu rõ
nguyện vọng hòa bình thực sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng đó
là hòa bình trên cơ sở độc lập và thống nhất của Việt Nam mà giới
cầm quyền Pháp trong những năm qua chưa thấy buộc phải chấp
nhận.
Pháp không còn đủ sức chịu đựng gánh nặng chiến tranh xâm
lược đã quá kéo dài. Nhưng khác với chiến tranh Triều Tiên, chính
quyền Pháp chưa thấy có gì đe dọa số phận quân viễn chinh đang
làm chủ vùng trời, vùng biển, và hầu hết những thành phố lớn trên
bán đảo Đông Dương. Nguy cơ sụp đổ hồi Đông Xuân 1950 — 1951
đã qua. Với sự giúp đỡ có hạn từ bên ngoài, "quân đoàn tác chiến"
(corps de bataille) của đối phương sẽ không vượt qua con số 6 đại
đoàn bộ binh đơn thuần. Quân viễn chinh vẫn không phải đương
đầu với xe tăng, máy bay, tàu chiến, pháo cao xạ và pháo mặt đất
hiện đại. Họ chỉ cần đối phó với chiến tranh du kích trên chiến
trường đồng bằng, những đội quân nhỏ thường vội vã rút lui khi
những binh đoàn cơ động xuất hiện. Sức mạnh của đối phương là
tác chiến ở vùng rừng núi. Nhưng "chiến lược con nhím" cũng đã
chứng tỏ hiệu quả. Pháp vẫn còn nhiều khả năng tăng cường lực
lượng bằng cách xây dựng quân đội các quốc gia liên kết, và bổ sung
những trang bị hiện đại do Mỹ viện trợ. Giới cầm quyền Pháp đã hết
hy vọng giành chiến thắng, nhưng vẫn tin còn đủ thời gian và điều
kiện để tìm cách kết thúc có lợi, theo cái họ gọi là "lối thoát danh
dự". Mỹ không thể bỏ mặc Pháp ở Đông Dương. Ngày 13 tháng 7
năm 1953, trong cuộc gặp ngoại trưởng Mỹ Đalét (John Foster
Dulles) tại Oasinhtơn, Biđôn (Georges Bidault), bộ trưởng ngoại
giao Pháp nói: "Chúng tôi không thể tiếp tục cuộc thập tự chinh một
mình, tuy nhiên chúng tôi cũng không muốn ngừng lại bằng bất kể
cách nào. Đặc biệt, không có điều đình trực tiếp với Hồ Chí Minh".
Nội các Pháp khủng hoảng liên miên. Những người kế tiếp lên cầm
đầu vẫn thuộc phái hữu.
Như chúng ta đã dự đoán, nếu tình hình Triều Tiên tạm ổn định,
Mỹ sẽ dồn những nỗ lực chống cộng vào Đông Dương.
Ngày 24 tháng 7 năm 1953, thủ tướng chính phủ bù nhìn Nguyễn
Văn Tâm được Tổng thống Aixenhao (Dwight D. Eisenhower) mời
sang Hoa Kỳ. Cuối tháng 7, Aixenhao quyết định dành 400 triệu đô
la cho Đông Dương để "tổ chức một quân đội Việt Nam thực sự".
Pháp đề nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khóa 1953, và
được chấp nhận 385 triệu. Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho
Pháp tại Đông Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng chuyển giao cho Pháp
nhiều trang bị, vũ khí, trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến các
loại.
Ngày 27 tháng 7 năm 1953, hiệp định ngừng bắn ở Triều Tiên
được ký tại Bàn Môn Điếm.
Hăngri Nava (Henri Navarre) tới Sài Gòn ngày 19 tháng 5 năm
1953. Từ khi bắt đầu chiến tranh, nước Pháp đã bẩy lần bổ nhiệm
tổng chỉ huy đội quân viễn chinh. Tôi chỉ thị cho cơ quan tham mưu
tìm hiểu ngay về viên tướng này. Chúng ta chỉ biết được rất ít. Nava
là tướng bốn sao, 55 tuổi, nguyên tham mưu trưởng lục quân Pháp
thuộc khối Bắc Đại Tây Dương đóng ở Trung âu. Nava đã từng phụ
trách công tác tình báo phản gián trong quân đội Pháp, và chỉ huy
một sư đoàn thiết giáp. Báo chí phương Tây ca ngợi Nava như một
"danh tướng" có thể "uốn nắn lại tình hình Đông Dương”.
Ngày 3 tháng 7, Nava trở lại Pari. Chỉ sau hơn một tháng nghiên
cứu tình hình tại chỗ, Nava đã có một kế hoạch đệ trình trước Hội
đồng Tham mưu trưởng và Hội đồng Quốc phòng tối cao Pháp. Lần
đầu trong chiến tranh Đông Dương, một tổng chỉ huy có kế hoạch
chiến lược về quân sự nhằm giành chiến thắng trong hai năm. Nava
đã gây được ấn tượng tốt trong giới quân sự và chính trị Pháp. Trên
báo chí Pháp lại xuất hiện từ ''chiến thắng" đã biến mất cùng với Đờ
Lát (De Lattre de Tassigny). Điều quan trọng hơn, kế hoạch Nava
được Mỹ tán thành. Nó chỉ gặp trở ngại khi bộ trưởng tài chính Phô
(Edgar Faure) nêu ra việc thực thi kế hoạch phải chi ít nhất là 100 tỉ
phrăng. Một con số quá lớn! Ở Hội đồng Tham mưu trưởng cũng
như Hội đồng Quốc phòng, người ta bàn nên bớt cho Nava nhiệm vụ
bảo vệ nước Lào đề ra trong kế hoạch, để giảm bớt chi tiêu. Thống
chế Giăng (Juin), người phát ngôn của các tham mưu trưởng, nhấn
mạnh: cần trao cho Bộ Ngoại giao yêu cầu Mỹ và Anh phải bảo đảm
sự toàn vẹn lãnh thổ của Lào, đồng thời lưu ý Liên Xô và Trung Quốc
nguy cơ xung đột quốc tế có thể diễn ra nếu Lào bị xâm chiếm. Nava
đề nghị chính phủ có quyết định rõ ràng bằng văn bản. Điều đó liên
quan đến trận Điện Biên Phủ, và sẽ làm tốn khá nhiều giấy mực sau
này.
Ngày 2 tháng 8 năm 1953, Nava trở lại Sài Gòn.
Cục Quân báo được chỉ thị gấp rút tìm hiểu kế hoạch Nava.
So với những tướng lĩnh Pháp mà ta đã từng gặp trong chiến
tranh như Lơcléc (Leclerc), Đờ Lát... thì Nava là một tên tuổi mới ít
gây ấn tượng. Nhưng Nava được đặc biệt chú ý vì gắn với một thời
kỳ mới sau cuộc chiến Triều Tiên. Việt Nam đã trở thành nước thứ
mười hai của phe xã hội chủ nghĩa, sẽ nổi lên như một điểm nóng
duy nhất trong cuộc đối đầu giữa Đông và Tây. Mỹ chắc chắn sẽ ra
sức giúp Pháp để cuối cùng, hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương.
Từ năm 1950, chủ nghĩa thực dân mới bắt đầu tranh giành ảnh
hưởng với chủ nghĩa thực dân cũ ở vùng tạm bị chiếm. Một số phần
tử cơ hội chính trị ngả theo Mỹ. Với việc trao "độc lập", "chủ quyền"
cho các quốc gia liên kết, xây dựng một "quân đội quốc gia" bằng tiền
và vũ khí Mỹ nhằm mục tiêu chống cộng, Pháp đã đi vào quá trình
chuyển giao Đông Dương cho Mỹ.
Sau chiến dịch Tây Bắc, cuối năm 1952, bộ đội ta đã tập trung
nghiên cứu đánh tập đoàn cứ điểm. Ta nhận thấy đây có thể là cách
đối phó cuối cùng của địch trước một cuộc tiến công trên địa hình
rừng núi. Nếu diệt được tập đoàn cứ điểm gồm một số tiểu đoàn
quân tinh nhuệ của địch ta sẽ tạo nên bước chuyển biến mới trong
chiến tranh. Bản chất chiến tranh xâm lược buộc quân địch phải
phân tán lực lượng để thực hiện nhiệm vụ chiếm đóng. Một tập đoàn
cứ điểm lớn bị tiêu diệt sẽ kéo theo sự phá sản của chiến lược "chiến
tranh đồn binh" cổ điển của quân xâm lược.
Tuy nhiên, muốn giải quyết một tập đoàn cứ điểm như Nà Sản,
ngoài việc rèn luyện bộ đội, tìm ra chiến thuật thích hợp, cần phải có
sự trợ lực của trọng pháo và pháo cao xạ để giảm nhẹ thương vong
của bộ đội trong một trận đánh dài ngày. Trong quý I năm 1958,
trung đoàn lựu pháo 105 ly do bạn trang bị và huấn luyện đã về
nước. Việc vận chuyển trọng pháo từ Vân Nam về Việt Bắc phải dùng
bè đi theo sông Hồng qua nhiều ghềnh thác. Trung đoàn cao xạ 37 ly
đang được gấp rút chuẩn bị về nhân sự. Trận đánh Nà Sản chỉ có thể
bắt đầu vào mùa khô năm nay. Chúng ta đặt hy vọng vào trận đánh
này, trận đánh giải phóng hoàn toàn vùng rừng núi Tây Bắc. Có thể
là trận đánh bản lề của chiến tranh.
Ngày 17 tháng 7 năm 1953, trời vừa rạng sáng, hai tiểu đoàn dù
Pháp bất thần nhảy xuống thị xã Lạng Sơn. Sau đó một tiểu đoàn dù
khác nhảy xuống Lộc Bình trên đường số 4. Những nơi này đều nằm
sâu trong hậu phương ta. Ở thị xã Lạng Sơn, quân địch lùng sục vào
một số kho vũ khí phá phách rồi vội vã rút theo đường số 4. Tới Lộc
Bình, chúng kết hợp với tiểu đoàn dù ở đây thành một binh đoàn,
tiếp tục đi về phía bờ biển. Một đội quân cơ động đã tiến lên đón
chúng ở Đình Lập với những xe vận tải. Từ đây chúng hành quân
bằng cơ giới về Tiên Yên. Cuộc hành binh chớp nhoáng khiến lực
lượng vũ trang ta không kịp phản ứng. Mấy ngày sau, ta biết đây là
cuộc hành binh Con nhạn (Hirondelle) do đại tá Đuycuốcnô
(Ducournau) chỉ huy. Hành động táo bạo của địch chứng tỏ chúng
nắm chắc sự bố trí sơ khoáng của ta ở một tỉnh giáp giới với Trung
Quốc đã được giải phóng trước đó ba năm.
Ngày 12 tháng 8 năm 1953, tôi nhận được báo cáo quân địch đã
rút khỏi Nà Sản. Một tin hoàn toàn bất ngờ! Toàn bộ quân địch rút
bằng đường không cách đó ba ngày, địch đã khéo nghi binh đánh lừa
ta. Thấy máy bay vận tải xuất hiện nhiều, bộ đội đóng chung quanh
Nà Sản lại tưởng lầm địch tăng cường lực lượng để đối phó với cuộc
tiến công sắp tới. Nava giành thắng lợi đầu tiên bằng một cuộc rút
lui. Về sau chúng ta mới biết: tập đoàn cứ điểm Nà Sản không được
duy trì vì qua chiến dịch Sầm Nưa, nó đã chứng tỏ không có khả
năng ngăn chặn các đại đoàn chủ lực của ta tiến sang Thượng Lào.
Nếu như đòn biệt kích của Nava nhắm vào Lạng Sơn chỉ nhắc ta
đề cao cảnh giác, thì sau khi địch rút quân khỏi Nà Sản, Tổng quân
ủy phải trao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu nhìn lại toàn cục,
nghiên cứu một kế hoạch mới cho mùa khô tới. Chủ trương vẫn là
chủ động tiến công. Phương hướng có thể là giải phóng Lai Châu,
tiến sang giải phóng Thượng Lào, nối liền vùng mới giải phóng với
căn cứ địa Sầm Nưa. Ta tiếp tục nghiên cứu tổ chức một cánh quân
vu hồi, lần này có thể từ Banaphào đánh sang Trung Lào, tiến xuống
Hạ Lào vì ở đây bạn đã có căn cứ địa Lào Ngam khá mạnh.
Mùa khô 1953 — 1954 chỉ mới bắt đầu.
2
Trước khi vào mùa khô 1953—1954, so sánh lực lượng về quân
số, địch đã vượt lên ta khá xa. Tổng quân số của địch là 445.000
người, gồm 146.000 quân Âu Phi (33%) và 299.000 quân ngụy
(67%). Tổng quân số của ta là 252.000 người1. Như vậy, quân địch
đông hơn ta: 193.000 người. Riêng quân ngụy cũng đã đông hơn ta:
47.000 người.
Thời gian trước mắt, quân số cũng như trang bị của lực lượng ta
đã tới giới hạn. Về phía địch, với hứa hẹn của Mỹ năm 1954 sẽ tăng
viện trợ quân sự cho Đông Dương lên gấp đôi, Pháp còn khả năng
tăng quân số, có thêm nhiều vũ khí hiện đại và những phương tiện
chiến tranh mới. Có thể nói: Trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế
quốc, chúng ta sẽ không bao giờ có được lực lượng vật chất mạnh
hơn địch, không chỉ riêng về vũ khí, mà cả số quân. Ta phải chấp
nhận thực tế đó để tìm cách giành chiến thắng.
Lực lượng cụ thể của địch và ta lúc này như sau:
Về bộ binh, địch có 267 tiểu đoàn. Về pháo binh, Pháp có 25 tiểu
đoàn; ngụy có 8 tiểu đoàn. Về cơ giới, Pháp có 10 trung đoàn, 6 tiểu
đoàn và 10 đại đội; ngụy có 1 trung đoàn và 7 đại đội. Về không quân,
Pháp có 580 máy bay; ngụy có 25 máy bay thám thính và liên lạc. Về
hải quân, Pháp có 391 tàu; ngụy có 104 tàu loại nhỏ và 8 tàu ngư lôi.
Lực lượng ta vẫn đơn thuần là bộ binh, gồm 6 đại đoàn, 18 trung
đoàn và 19 tiểu đoàn. Về pháo binh, ta có 2 trung đoàn, 8 tiểu đoàn
và 4 đại đội. Về phòng không, ta có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn.
Tính theo số tiểu đoàn bộ binh, ta có tổng cộng 127 tiểu đoàn so
với 267 tiểu đoàn của địch. Biên chế tiểu đoàn của ta là: 635 người;
biên chế tiểu đoàn địch từ 800 — 1.000 người.
Tuy nhiên, bên cạnh bộ đội chủ lực và địa phương, trên cả nước
ta đã có khoảng hai triệu dân quân, du kích. Đây là lực lượng nửa vũ
trang, chủ yếu bám sát các làng xã, thị trấn, thành phố ở vùng tạm bị
chiếm và vùng tranh chấp, đối phó với bộ máy và lực lượng đàn áp,
kìm kẹp của địch, chống càn, hỗ trợ đắc lực cho bộ đội chủ lực trong
mỗi trận đánh cũng như các chiến dịch. Theo lời Bác, đây chính là
bức tường sắt mà kẻ địch nào đụng vào cũng phải tan. Lực lượng này
còn là nguồn bổ sung vô cùng quý giá cho đội quân chủ lực.
Sự chênh lệch về quân số, vũ khí, trang bị không hoàn toàn phản
ánh sức mạnh của đôi bên trong cuộc chiến. Địch tuy có ưu thế vượt
trội về binh lực, nhưng chiến tranh nhân dân của ta đã làm cho quân
địch phải phân tán trên khắp các chiến trường. Không những chúng
không thể tập trung toàn bộ ưu thế đó vào một trận đánh quyết định,
mà cũng chưa đủ lực lượng để mở một cuộc tiến công lớn vào các
đại đoàn chủ lực ta trên miền Bắc. Trong tổng số 267 tiểu đoàn của
địch, thì 185 tiểu đoàn đã phải trực tiếp làm nhiệm vụ chiếm đóng,
chỉ còn 82 tiểu đoàn làm nhiệm vụ cơ động chiến thuật và chiến
lược. Già nửa lực lượng cơ động địch, 44 tiểu đoàn, phải tập trung
trên miền Bắc để đối phó với chủ lực ta. Vào thời điểm này, nếu tính
chung trên chiến trường Bắc Bộ, lực lượng ta mới bằng 2/3 lực
lượng địch (76 tiểu đoàn/112 tiểu đoàn), nhưng tính riêng lực lượng
cơ động chiến lược, thì lực lượng ta đã vượt hơn địch về số tiểu
đoàn (56/44)2. Điều này rất có ý nghĩa trước khi bước vào mùa khô
mới.
Mọi cố gắng của Pháp và Mỹ vẫn chưa cải thiện được tình thế của
Pháp trong chiến tranh xâm lược. Phương Tây đã ra sức tô vẽ cuộc
"chiến tranh bẩn thỉu" thành cuộc "Thập tự chinh chống cộng",
nhưng vẫn không vực được sự sa sút về tinh thần của quân viễn
chinh, đặc biệt là quân ngụy lúc này đã chiếm tỉ lệ lớn trong hàng
ngũ địch. Binh lính không hiểu chiến đấu cho ai và chiến đấu để làm
gì? Trong khi đó, những cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân mùa hè đã
nâng cao lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết chiến đấu và ý thức giai
cấp trong quân đội, rèn luyện thêm về kỹ thuật, chiến thuật, mang lại
cho cán bộ, chiến sĩ tinh thần náo nức thi đua chiến đấu lập công.
Từ năm 1950, chúng ta vẫn giữ quyền chủ động trên chiến trường
chính Bắc Bộ.
Hạ tuần tháng Chín năm 1953, các đồng chí Trung Quốc chuyển
cho ta một bản kế hoạch Nava với cả bản đồ do cơ quan tình báo của
bạn thu thập được. Nava chủ trương xúc tiến chính sách mới của
Chính phủ Pháp là trao "chủ quyền" và "độc lập" cho các quốc gia
liên kết, nhằm phát triển các "quân đội quốc gia" thành một lực
lượng lớn mạnh. Đây là cách duy nhất giúp Pháp giải quyết vấn đề
quân số thiếu hụt, không thể lấy thêm từ chính quốc, đồng thời tạo
điều kiện cho Nava gấp rút tổ chức một lực lượng cơ động chiến
lược mạnh để thoát khỏi tình trạng phòng ngự bị động, tiến tới
giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính. Pháp dựa vào Mỹ
để tiếp tục chiến tranh vì lợi ích của bản thân mình, chứ không phải
để cho Mỹ thay thế Pháp ở Đông Dương. Muốn được như vậy đội
quân viễn chinh phải giành được một thắng lợi quân sự quyết định.
Kế hoạch Nava về đại thể chia làm hai bước:
— Trong Thu Đông năm 1953 và mùa Xuân năm 1954, giữ thế
phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tập trung một lực lượng cơ động
lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với cuộc tiến công của ta; thực
hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng ba tỉnh tự
do ở đồng bằng Liên khu 5; đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng quân
ngụy và xây dựng một đội quân cơ động lớn đủ sức đánh bại các đại
đoàn chủ lực của ta.
— Từ Thu Đông năm 1954, sau khi đã hoàn thành những mục tiêu
trên, sẽ dồn toàn lực ra Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên
chiến trường chính giành thắng lợi lớn về quân sự, buộc ta phải chấp
nhận điều đình theo những điều kiện của Pháp, nếu ta khước từ,
quân cơ động chiến lược của địch sẽ tập trung mọi nỗ lực loại trừ
chủ lực ta.
Để có đủ lực lượng thực hiện kế hoạch, Nava chủ trương dùng ba
biện pháp: phát triển các "quân đội quốc gia" theo quy mô rộng lớn;
rút một bộ phận lực lượng chiếm đóng tăng cường cho lực lượng cơ
động chiến lược; xin tăng viện từ Pháp sang.
Sau này ta biết thêm, Nava dự tính tổ chức ngay trong năm 1953,
84 tiểu đoàn khinh quân ngụy, và năm 1954, sẽ tăng lực lượng này
lên gấp đôi, 168 tiểu đoàn. Như vậy, quân ngụy sẽ có gần 30 vạn,
không kể số quân ngụy nằm trong quân viễn chinh. Về lực lượng cơ
động chiến lược, Nava dự định trong thời gian 1953—1954, sẽ xây
dựng 27 binh đoàn cơ động3, trong đó có 1 sư đoàn quân nhảy dù.
Kế hoạch Nava là sự cụ thể hóa những ý tưởng của Đờ Lát đờ
Tátxinhi trước đây thành một chương trình hành động trong tình
hình mới. Đông Dương đã trở thành điểm nóng duy nhất trong chiến
tranh lạnh. Nó mang tầm vóc chiến lược, tiềm ẩn những nguy cơ lâu
dài đối với ta, và được Mỹ coi như một bước thực hiện những mưa
đồ của chính mình sau thất bại tại Triều Tiên. Các phái đoàn quân sự
Mỹ liên tiếp đến Sài Gòn, đốc thúc, giám sát viện thực hiện kế hoạch.
Viện trợ quân sự Mỹ cho Pháp đã chiếm 73% chi phí chiến tranh
Đông Dương. Pháp lợi dụng sự giúp đỡ của Mỹ để duy trì những
quyền lợi của mình trên bán đảo. Mỹ dùng viện trợ gạt dần Pháp để
trở thành người thay thế Pháp. Lúc này, cả Pháp và Mỹ gặp nhau
trong mục tiêu giành một chiến thắng quân sự quyết định, buộc ta
phải chấp nhận kết thúc cuộc chiến theo những điều kiện do họ đặt
ra.
Đồng chí Vi Quốc Thanh về nước mới sang, cùng tôi lên Khuổi
Tát gặp Bác. Sau khi nghe trình bày kế hoạch của địch, Bác nói:
"Nava rất nhiều tham vọng, muốn giành chiến thắng lớn về quân sự.
Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch
muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải
phân tán mà đánh!”.
Tôi và đồng chí Vi Quốc Thanh nhất trí mở những cuộc tiến công
nhắm vào những chiến trường hiểm yếu mà địch yếu, hoặc tương
đối yếu, nhưng lại không thể bỏ, là cách tốt nhất buộc địch phải phân
tán lực lượng. Cũng nhất trí về hướng Lai Châu, hướng Trung và Hạ
Lào. Sẽ giao cho cơ quan tham mưu bàn cụ thể với các bạn Lào một
kế hoạch phối hợp chiến đấu trong mùa khô nghiên cứu vấn đề điều
động và sử dụng lực lượng tương đối hoàn chỉnh, để đưa trình cuộc
họp Bộ Chính trị sắp tới.
Ngay sau khi nhậm chức, Nava đã nêu cao những khẩu hiệu:
"luôn luôn chủ động", "luôn luôn tiến công”.
Trong mùa Hè và mùa Thu năm 1953, địch liên tiếp mở hàng
chục cuộc hành quân càn quét dữ dội vùng tạm bị chiếm ở Bắc Bộ,
Bình — Trị — Thiên và Nam Bộ. Chúng ra sức đánh phá những căn
cứ du kích, dồn dân vào các khu tập trung để kiểm soát, phá hoại
kinh tế, vây bắt thanh niên và dùng mọi thủ đoạn để thực hiện kế
hoạch mở rộng quân ngụy. Tuy nhiên, lực lượng vũ trang và nhân
dân ta ở hậu địch đã quen đối phó với những cuộc càn quét loại này.
Một sĩ quan trong tổng hành dinh của Nava đã nhận xét: "Tại Bình —
Trị — Thiên tháng 7 năm 1953, tướng Lơblăng (Leblanc) tổ chức
cuộc càn..., ông ta cất vó nhưng không thu được kết quả nào. Trung
đoàn 95 đã lọt qua lỗ vó chỉ để lại vài chỗ vướng rách... Những cuộc
càn quét ở Bắc Bộ... đã thu hút những phương tiện tối đa và tốt nhất,
nhưng lại chỉ thu được những kết quả tối thiểu".
Những hoạt động đầu tiên chứng tỏ Nava là một tổng chỉ huy
năng động, táo bạo, quá tự tin và khá chủ quan. Lúc này ta đã nắm
được mùa khô 1953—1954, địch sẽ đánh vào ba tỉnh tự do Liên khu
5, để mở đầu cuộc tiến công ở miền Nam như trong kế hoạch. Trên
miền Bắc, địch chủ trương giữ thế phòng ngự, nhưng không có nghĩa
chúng chỉ tập trung lực lượng ở đồng bằng chờ đón cuộc tiến công.
Chúng ta cần có kế hoạch phá vỡ âm mưu của địch trên chiến trường
cả nước. Sau khi địch rút khỏi Nà Sản, cơ quan tham mưu của ta đã
gặp khó khăn trong việc chọn hướng tiến công chiến lược.
Trong mùa Hè và mùa Thu, các đại đoàn chủ lực tiếp tục học tập
chiến thuật công kiên và đánh vận động.
Về công kiên, học đánh tập đoàn cứ điểm và đánh công sự mới
(bunker). Từ những kinh nghiệm thu được ở Hòa Bình, Nà Sản, kết
hợp với những kinh nghiệm của bạn, đặc biệt là chiến dịch Hoài Hải,
chúng ta đã nhận thấy có hai cách đánh tập đoàn cứ điểm: Một là,
dùng toàn bộ lực lượng đánh cùng một lúc. Một mũi đột kích mạnh
chọc sâu vào sở chỉ huy của tập đoàn cứ điểm, giống như một lưỡi
gươm xọc vào tim địch, tạo nên sự rối loạn ngay từ bên trong.
Những mũi khác sẽ nhằm những hướng địch sơ hở, đánh đồng thời,
tạo nên sự rối loạn ở cả bên trong và bên ngoài. Ta gọi đó là cách
"đánh nhanh giải quyết nhanh". Hai là, tiêu diệt dần từng trung tâm
đề kháng, từng cứ điểm từ ngoài vào trong, thu hẹp phạm vi chiếm
đóng cho tới lúc địch không còn sức kháng cự. Cách đánh này cần
một thời gian chuẩn bị và chiến đấu dài ngày tùy theo khả năng đối
phó của địch và sức mạnh công kích của ta, thường gọi là "đánh chắc
tiến chắc", cũng còn được gọi là "đánh bóc vỏ". Qua học tập, các đơn
vị đã nhận thấy không phải bộ đội ta không có khả năng tiêu diệt
"con nhím".
Về vận động, học đánh địch đang vận động hoặc mới chiếm lĩnh
trận địa có máy bay, pháo binh, cơ giới yểm hộ chặt chẽ. Bộ đội được
luyện tập đánh cả ban ngày và ban đêm. Trung đoàn lựu pháo 105 ly
đầu tiên của ta, gồm 24 khẩu pháo Mỹ với 3.600 viên đạn, đã có mặt
ở Bắc Mục, Tuyên Quang, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu. Đây là
hỏa lực mạnh nhất của quân đội ta lúc này. Trung đoàn lựu pháo
nằm trong đội hình của đại đoàn công pháo 351. Riêng trung đoàn
pháo cao xạ 37 ly, do Liên Xô trang bị, mới thành lập từ tháng 9 năm
1953, chỉ có thể có mặt vào cuối năm.
Sau thời gian học tập, bắt đầu vào mùa khô, các đơn vị đều nóng
lòng chờ lệnh lên đường.
Nhưng đánh địch ở đâu? Suốt tháng Tám, cơ quan tham mưu
trăn trở với câu hỏi này. Trên chiến trường chính Bắc Bộ chỉ có hai
hướng là đồng bằng và rừng núi. Ta chưa thể mở một cuộc tiến công
lớn ở đồng bằng, nơi Nava đã bày sẵn thế trận và ta chưa có khả
năng hạn chế sức mạnh của máy bay và pháo địch. Do đó ở đồng
bằng vẫn phải tiến hành chiến tranh du kích kết hợp với vận động
đánh nhỏ của bộ đội chủ lực. Còn ở rừng núi? Trên toàn bộ vùng
thượng du phía bắc, chỉ có hai ngàn quân địch ở Lai Châu. Không
cần tới một lực lượng lớn để tiêu diệt số quân này. Có thể mở tiếp
một chiến dịch ở Thượng Lào? Nhưng sau khi giải phóng Sầm Nưa,
tuyến đường tiếp tế vốn đã xa lại càng xa. Và cũng không thể đưa
phần lớn các đại đoàn chủ lực của ta sang Thượng Lào, trong lúc già
nửa số quân cơ động của Nava đang tập trung ở đồng bằng sẵn sàng
khai thác mỗi sơ hở ở hậu phương ta!
Tôi và anh Thái cùng bàn bạc với các đồng chí cố vấn xây dựng
một kế hoạch đánh địch ở nhiều hướng buộc địch phải phân tán đối
phó, nhằm trước hết là phá thế tập trung binh lực của địch ở đồng
bằng. Cuối tháng 8 năm 1953, Bộ Tổng tham mưu báo cáo với Tổng
quân ủy một bản kế hoạch tác chiến với bốn nhiệm vụ:
1. Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu phá tan âm mưu bình
định của địch, phá kế hoạch mở rộng quân ngụy.
2. Bộ đội chủ lực dùng phương thức hoạt động thích hợp tiêu diệt
từng bộ phận sinh lực địch, có thể tác chiến lớn trên chiến trường
đồng bằng để rèn luyện bộ đội.
3. Có kế hoạch bố trí lực lượng tiêu diệt địch khi chúng đánh ra
vùng tự do.
4. Tăng cường hoạt động lên hướng Tây Bắc (Lai Châu), Thượng
Lào và các chiến trường khác để phân tán chủ lực địch.
Về sử dụng binh lực, Bộ Tổng tham mưu dự kiến:
— Mặt trận Tây Bắc và Thượng Lào, có đại đoàn 316 và trung
đoàn 148.
— Mặt trận Trung Du có từ 2 tới 3 đại đoàn và bộ đội địa phương.
— Mặt trận Hữu Ngạn Liên khu 3, có 2 đại đoàn, trong đó, một bộ
phận vào địch hậu.
— Mặt trận Tây Nguyên có các trung đoàn chủ lực của Liên khu 5.
Đây là phác thảo đầu tiên kế hoạch tác chiến chiến cục Đông
Xuân 1953—1954.
3
Một buổi sáng đầu tháng 10 năm 1953, tôi từ cơ quan Bộ Tổng tư
lệnh đi dự cuộc họp bàn về kế hoạch tác chiến Đông — Xuân 1953—
1954 do Bộ Chính trị triệu tập. Mùa Thu năm nay đến với những lo
âu và hy vọng. Không khí có phần căng thẳng. Không năm nào vào
thời gian này, những đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường lại chưa lên
đường. Ta vẫn chưa xác định trận đánh lớn trong mùa khô sẽ nổ ra ở
đâu.
Từ Điềm Mặc tới Lục Giã, đi ngựa khoảng vài giờ. Trời mưa. Con
đường mòn lầy lội chạy dưới chân núi Hồng, qua những rừng vầu,
những thửa ruộng bậc thang, những bản nhỏ thưa thớt.
Nửa buổi sáng, tới Tỉn Keo, một bản của thôn Lục Giã, nằm ở
chân núi. Từ đây có đường sang Tân Trào qua Đèo Gie. Lên một
đoạn dốc không xa, đã nhìn thấy ngôi nhà tre nhỏ lấp ló bên sườn
núi, giữa rừng vầu. Bác ở Khuổi Tát, một bản người Dao, tận trên
đỉnh núi. Ngôi nhà này là nơi Bác thường đến họp với Bộ Chính trị.
Từ năm 1951, phần lớn các cơ quan trung ương đều ở Định Hóa,
Thái Nguyên. Nhiều làng bản, số cán bộ, bộ đội nhân viên cơ quan
đông hơn dân địa phương. Máy bay địch săm soi, đánh phá nhiều
lần vẫn không trúng các cơ quan. Chắc chúng không ngờ "chùa rách
bụt vàng", những bản làng nghèo nàn, vắng vẻ này lại chứa đựng bộ
phận đầu não của kháng chiến.
Những cánh cửa sổ bằng nứa đã được chống cao. Trong nhà có
một bàn tre rộng và mấy chiếc ghế ghé...
 





