TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg BANDODANCU.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg TDMNPB_tunhien.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam

    chuyen-o-nong-trai-george-orwell

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:27' 07-03-2024
    Dung lượng: 2.6 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Mục Lục
    Giới thiệu
    Chương I
    Chương II
    Chương III
    Chương IV
    Chương V
    Chương VI
    Chương VII
    Chương VIII
    Chương IX
    Chương X

    Giới thiệu
    Câu chuyện bắt đầu ở Điền Trang của ông Jones. Vào một
    đêm trường sau khi ông chủ Jones đã ngủ mê mệt vì say rượu,
    các thú vật của Nông Trại Manor tụ họp trong nhà chứa cỏ để
    nghe con heo già Old Major kể về một giấc mộng kỳ lạ. Khởi
    đầu, bằng một giọng nói rõ ràng và đầy sức mạnh, Heo già
    Major kể lại sự hiểu biết của mình về bản chất của cuộc đời.
    Theo đó, các con vật được sinh ra phải làm việc cực nhọc, chịu
    đựng gian khổ, không được ăn no, tới khi không còn sức lao
    động nữa thì bị làm thịt. Chúng bị làm nô lệ cho loài người và
    đây là giới sinh vật chỉ tiêu thụ mà không sản xuất. Vì vậy chỉ
    còn một giải pháp: phải lật đổ loài người. Mọi con vật phải
    đoàn kết lại vì một mục đích chung: nổi dậy.
    Buổi họp bị gián đoạn một thời gian ngắn vì vài con chó
    chạy đi đuổi chuột, tiếp theo Heo già Major đề nghị bỏ phiếu
    quyết định loài chuột là đồng chí (comrades), kế tiếp mọi con
    vật đều tán thành một quyết định khác của Heo già Major như
    sau: Con người là Kẻ Thù. Các con vật vì vậy cần phải tránh
    xa các thói quen của con người: không xài nhà ở, giường nằm,
    quần áo, tiền bạc, mậu dịch, rượu. Và trên hết, Tất cả chúng ta
    đều là Bạn. Không con vật nào được giết một con vật khác.
    Mọi con vật đều bình đẳng. Heo già Major đã không thể mô tả
    hết giấc mộng tốt đẹp của nó cho các con vật khác nghe và nó
    cũng dạy cho các con vật kia hát bài ca Các thú vật của nước
    Anh mà nó học được trong giấc mộng. Nhờ hát đi hát lại bài
    ca cách mạng này, các con vật đều trở nên cuồng nhiệt.
    Không lâu sau đó, Heo già Major qua đời nhưng các con
    vật còn sống khác đều cần phải hiểu rõ nền Triết học Súc vật
    chủ nghĩa (Animalism), đều phải nổi dậy chống lại ông chủ
    Jones. Công tác giảng dạy và tổ chức quần chúng được giao
    phó cho các con heo bởi vì loài heo được coi là những con vật
    tinh khôn, khéo léo. Trong số các con vật này, có hai con tài
    giỏi nhất là Heo Snowball và Heo Napoleon. Ngoài ra còn có
    Heo Squealer, một kẻ ăn nói xuất sắc. Ngày tháng trôi dần
    qua, ông chủ trại Jones càng uống nhiều rượu mạnh và càng
    trễ nải việc chăm sóc nông trại. Rồi vào một buổi chiều kia,
    khi ông Jones quên cho súc vật ăn uống sau một ngày dài, các

    con vật phá cửa, xông vào máng ăn và giành ăn uống. Ông
    Jones và các người làm công bèn dùng roi, gậy, đánh đập các
    con vật. Các con vật đói ăn này không thể chịu đựng hơn được
    nữa. Chúng bèn tấn công các kẻ đàn áp. Vừa ngạc nhiên, vừa
    hoảng sợ, cả chủ lẫn tớ đều bị đuổi khỏi nông trại.
    Thật là bất ngờ. Cuộc nổi dậy đã thành công. Ông chủ
    Jones không còn nữa, Nông trại Manor từ nay thuộc về các súc
    vật. Niềm vui của tất cả súc vật thật là vô kể, chúng là chủ
    nhân và sẽ làm việc hòa thuận với nhau suốt đời…

    Chương I
    Chủ trại nông trang là ông Jones đã đóng cửa dãy chuồng
    gà để đi ngủ, nhưng say quá quên không cài các cửa sập. Cầm
    cây đèn bão hắt thành quầng sáng đung đưa qua lại, ông ta lảo
    đảo đi qua sân, rũ ủng qua cửa hậu, tới thùng bia trong bếp
    phụ châm một vại cuối ngày, rồi lên gác vào giường ngủ, nơi
    bà Jones đã o o ngáy kỹ.
    Ánh sáng từ phòng ngủ vừa tắt, khắp khu chuồng trại đã lao
    xao nháo nhác hết cả. Suốt ngày hôm ấy trong trại đã truyền
    tin cho nhau rằng Ông Cả, con lợn giống Trung Bạch từng
    thắng giải đấu xảo ấy, vừa nằm mơ rất lạ vào đêm trước, nên
    có điều muốn trao đổi đến toàn thể súc vật ở trại. Tất cả đã
    thỏa thuận là toàn trại sẽ họp mặt trong nhà kho lớn khi ông
    Jones rời đi yên ổn. Ông Cả (đấy là cách gọi đã quen, chứ khi
    đi đấu xảo, tên nó ghi là Bạch Mao Willingdon) được cả trại
    tôn kính, con nào cũng sẵn sàng bớt một giờ ngủ để đến nghe
    điều nó muốn trình bày.

    Ở đầu nhà kho lớn, trên các bục dựng cao, Ông Cả đã sớm
    yên vị trong ổ rơm, dưới ngọn đèn bão treo trên rầm. Nó đã
    mười hai tuổi, tuy dạo gần đây có hơi phệ, nhưng nhìn chung
    trông vẫn oai nghiêm, dáng vẻ thông tuệ và nhân từ bất chấp
    đôi răng nanh chưa bao giờ cắt. Chẳng mấy chốc các con vật
    khác lục tục tới, con nào con ấy tìm chỗ thoải mái theo thói
    quen loài mình. Đầu tiên là ba con chó: Hoa Chuông, Jessie và
    Hàm Nghiến, tiếp đến là đàn lợn, chúng ngồi xuống mặt rơm
    ngay trước cái bục cao. Gà mái đậu trên bậu cửa sổ, bồ câu vỗ
    cánh bay lên xà ngang, cừu và bò cái nằm xuống sau đàn lợn,
    ợ cỏ lên nhai lại. Đôi ngựa kéo xe thồ - Đấu Sĩ và Cỏ Ba Lá -

    vào cùng nhau, chậm rãi và cẩn thận lựa từng bước đặt bộ vó
    lớn rậm lông, đề phòng giẫm phải con vật nhỏ nào lấp trong
    rơm. Cỏ Ba Lá là một chị ngựa đẫy đà hiền hậu, đã đến hồi
    trung tuổi, thân mình xổ ra sau bốn lần sinh nở không cách nào
    lấy lại dáng được. Đấu Sĩ thân hình khổng lồ, cao gần mười
    tám gang tay, khỏe bằng hai ngựa thường. Sọc trắng dọc mũi
    khiến nó có vẻ hơi đần, và thực tình nó cũng không thuộc loại
    sáng láng gì lắm, nhưng được cái tính tình trung thực, sức làm
    việc chẳng ai bì, khiến cả trại đều trọng nể. Theo sau đôi ngựa,
    dê trắng Muriel và lừa Benjamin đi vào. Kể tuổi thì Benjamin
    già nhất trại, tính khí cũng khó chịu nhất hạng. Nó đã ít mở
    miệng thì chớ, hễ mở lại toàn buông ra những lời cay độc:
    chẳng hạn, nó bảo trời cho nó cái đuôi xua ruồi, nhưng giá
    không có đuôi cũng chẳng có ruồi thì còn tốt hơn. Cả trại súc
    vật riêng mình nó không thấy cười bao giờ. Có ai hỏi, nó bảo
    nó chẳng thấy gì đáng cười sất. Tuy nhiên, dù không nói ra
    miệng, nó lại rất tận tình với Đấu Sĩ: mỗi Chủ nhật lại thấy cả
    hai ở bên nhau trong bãi thả quây rào sau vườn quả, gặm cỏ
    cạnh nhau chẳng nói chẳng rằng.
    Đôi ngựa vừa nằm xuống, đã thấy lứa vịt con mới mồ côi
    xếp hàng một vào nhà kho, vừa chiếp chiếp yếu ớt vừa ngó
    dọc ngó ngang, tìm một chỗ tránh không bị xéo phải. Cỏ Ba
    Lá khoanh đôi chân trước to cộ thành bức tường bao lấy
    chúng, lũ vịt liền rúc vào nhau ở bên trong rồi lập tức ngủ
    thiếp. Mãi sau cùng mới thấy Mollie, ả ngựa bạch xinh xắn
    ngốc nghếch vẫn kéo xe ngựa cho ông Jones õng ẹo đi vào,
    vừa đi vừa nhai một viên đường. Nó chọn chỗ ngay phía trước
    rồi cứ lúc lắc bộ bờm trắng, cốt làm xung quanh để ý đến mấy
    dải nơ đỏ tết trên bờm. Sau rốt đến con mèo, như thường lệ, nó
    nhìn quanh kiếm chỗ nào ấm nhất, rồi lách vào giữa Đấu Sĩ và
    Cỏ Ba Lá, và ngồi đó rừ rừ mãn nguyện suốt cả bài phát biểu
    của Ông Cả mà chẳng để vào đầu chữ nào.
    Giờ thì súc vật cả trại đã có mặt đủ, chỉ trừ Tiên Tri, con
    quạ nhà, đang ngủ trên cây sào sau cửa hậu. Khi Ông Cả thấy
    mọi con đều đã ngồi ấm chỗ và chăm chú chờ đợi, nó hắng
    giọng và bắt đầu:
    “Hỡi các đồng chí! Các đồng chí đều đã nghe tới giấc mơ
    kỳ lạ của tôi đêm qua. Nhưng chuyện giấc mơ tôi sẽ nói sau.
    Có một điều khác tôi cần nói trước. Thưa các đồng chí, tôi

    không nghĩ mình còn ở lại với các đồng chí được nhiều tháng
    nữa, thế nhưng trước khi chết tôi thấy mình có bổn phận phải
    truyền đạt lại những điều tôi đã chiêm nghiệm bấy lâu. Tôi đã
    sống khá lâu rồi, đã có nhiều thời gian nằm một mình trong
    chuồng mà suy ngẫm, và tôi dám nói mình thấu hiểu bản chất
    cuộc sống trên trái đất này hơn bất cứ con vật nào hiện đang
    còn sống. Đấy chính là điều tôi muốn nói với các đồng chí
    hôm nay.
    “Giờ các đồng chí hãy nghĩ thử xem, bản chất cuộc sống
    của chúng ta đây là như thế nào? Chúng ta cứ nhìn thằng vào
    sự thực: đời chúng ta vừa khổ sở, vừa nặng nhọc, lại ngắn
    ngủi. Chúng ta được sinh ra, chúng ta được nuôi ăn vừa đủ
    cầm hơi mà sống, ai có khả năng thì bị buộc làm việc cho đến
    khi sức cùng lực kiệt, và ngay khi không còn hữu ích nữa là ta
    sẽ bị xẻ thịt một cách dã man không thương xót. Khắp nước
    Anh không con vật nào quá một tuổi mà còn biết thế nào là
    sung sướng hay nhàn nhã. Khắp nước Anh không con vật nào
    được tự do. Đời con vật là đời khổ cực, nô lệ: sự thực rành
    rành là thế.
    “Nhưng có phải đấy là quy luật tự nhiên sẵn có hay không?
    Có phải mảnh đất dưới chân ta đây cằn cỗi đến nỗi không
    cung cấp được một cuộc sống đủ đầy cho những ai sống trên
    đó? Không đâu, các đồng chí ạ, một ngàn lần không! Đất đai
    nước Anh màu mỡ, khí hậu nước Anh thuận hòa, thừa đủ cung
    cấp thức ăn dồi dào cho một lượng súc vật lớn hơn nhiều hiện
    tại. Chỉ riêng trang trại chúng ta cũng đủ nuôi sống một tá
    ngựa, hai chục bò, hàng trăm cừu - mà đấy là sống với tiện
    nghi và phẩm giá vượt xa những gì ta có thể hình dung được.
    Vậy thì tại sao, tại sao chúng ta cứ sống mãi trong cảnh lầm
    than này? Đấy là vì gần như toàn bộ sản phẩm sinh ra từ lao
    động của ta đều bị con người cướp mất. Chính đấy, hỡi các
    đồng chí, là lời giải đáp cho mọi vấn đề của chúng ta. Tất cả
    chỉ tóm gọn trong một chữ: Người. Người là kẻ thù thực sự
    duy nhất của chúng ta. Chỉ cần loại bỏ Người, thì sẽ nhổ
    phăng vĩnh viễn được gốc rễ của đói kém và lao lực quá độ.
    “Người là sinh vật duy nhất chỉ tiêu thụ chứ không sản
    xuất. Hắn ta không cho sữa, hắn ta không đẻ trứng, hắn ta yếu
    sức không kéo nổi cày, hắn ta chạy chậm không bắt nổi thỏ.
    Thế mà hắn ta lại là chúa tể của mọi loài vật. Hắn bắt chúng ta

    làm việc, rồi thí cho phần tối thiểu để ta không chết đói, còn
    thì hắn ta giữ tất cho mình. Chính nhờ sức chúng ta mà đồng
    ruộng được cày, nhờ phân chúng ta mà đất thêm màu mỡ,
    nhưng trong chúng ta có ai sở hữu được gì hơn bộ da bọc
    xương? Các chị bò trước mặt tôi đây, năm vừa qua các chị đã
    cho bao nhiêu nghìn ga lông sữa? Sữa ấy đáng ra phải dành để
    nuôi lớn những chú bê lực lưỡng, giờ đã đi đâu cả rồi? Thì
    từng giọt đã đổ vào họng kẻ thù của chúng ta. Còn các chị gà
    mái, riêng năm qua các chị đã đẻ bao nhiêu quả trứng, vào bao
    nhiêu trọng ấy được nở thành những chú gà con? Tất cả số còn
    lại đã đi ra chợ để túi tiền của Jones và đám người làm thêm
    nặng. Chị nữa, chị Cỏ Ba Lá, bốn cô cậu ngựa chị đã sinh ra,
    đáng lẽ phải là niềm vui và chỗ tựa nương khi chị tuổi cao sức
    yếu, giờ đâu hết rồi? Chúng nó vừa lên một là bị bán - chị
    chẳng bao giờ còn đươc gặp đứa nào nữa. Đổi lại bốn lần nằm
    bếp cùng cả đời cật lực trên đồng ruộng - chị được gì ngoài
    bữa ăn mạt hạng với bốn vách chuồng?
    “Đã khổ cực như thế mà chúng ta cũng không được quyền
    sống hết tuổi thọ trời cho nữa. Tôi thì không có gì phàn nàn
    cho bản thân, tôi thuộc vào số may mắn. Tôi đã sống đến mười
    hai tuổi và đã có hơn bốn trăm đứa con. Cuộc sống tự nhiên
    của loài lợn là thế. Nhưng rốt cuộc chẳng con vật nào thoát
    khỏi lưỡi dao ác nghiệt. Mấy chú lợn thịt ngồi trước mặt tôi
    đây, chỉ trong một năm nữa từng chú một rồi sẽ gào thét mà
    trút hơi thở cuối cùng trên mặt thớt. Cái kết cuộc kinh hoàng
    ấy đợi sẵn từng kẻ trong chúng ta: bò hay lợn, gà hay cừu,
    không chừa ai hết. Cả ngựa với chó cũng đừng mong thoát
    được. Anh Đấu Sĩ, cái ngày những bắp thịt vạm vỡ kia xọp đi
    cũng là ngày Jones bán anh cho tay hàng thịt ngựa, kẻ sẽ cắt
    cổ anh rồi luộc chín, ném cho lũ chó săn cáo. Còn mấy chị chó
    kia, khi nào các chị thân già răng rụng, Jones sẽ buộc gạch vào
    cổ các chị mà đem dìm xuống cái ao hắn gặp đầu tiên.
    “Vậy chẳng phải rõ như ban ngày, hỡi các đồng chí, rằng
    tất cả những điều tàn ác đổ xuống đời chúng ta đây đều do ách
    chuyên chế của con người mà ra? Chỉ cần loại bỏ Người là
    mọi sản phẩm từ lao động của ta đều sẽ thuộc về ta. Gần như
    tức thì ta sẽ được tự do và giàu có. Như vậy hỏi ta phải làm gì?
    Tất nhiên là phải phấn đấu ngày đêm, cống hiến trọn tinh thần
    và sức lực để mà lật đổ loài người! Thông điệp của tôi cho các

    đồng chí chỉ có một lời đó thôi: Khởi nghĩa! Tôi không biết
    khi nào thì Khởi nghĩa sẽ nổ ra, có thể tuần sau mà cũng có thể
    một trăm năm nữa, nhưng tôi biết, rành rành như tôi biết có ổ
    rơm dưới chân mình đây, rằng sớm hay muộn công lý cũng sẽ
    được thực thi. Hãy kiên định mục đích ấy, hỡi các đồng chí,
    trong suốt quãng đời ngắn ngủi còn lại của mình! Và trên hết,
    hãy truyền lại thông điệp của tôi cho lớp hậu sinh, để các thế
    hệ về sau tiếp tục đấu tranh cho đến ngày thắng lợi.
    “Và xin nhớ cho, các đồng chí ạ, phải cương quyết đừng
    bao giờ lao động. Đừng để luận điệu xuyên tạc đánh lạc
    hướng. Đừng nghe kẻ nào rao giảng rằng Người và súc vật có
    chung quyền lợi, rằng thịnh vượng của bên này cũng là phát
    đạt của bên kia. Chỉ rặt là dối trá thôi. Con người không vì
    quyền lợi của bất kỳ sinh vật nào khác ngoài chính bản thân
    hắn. Còn giữa loài vật chúng ta với nhau, cần phải tuyệt đối
    đoàn kết, tuyệt đối đồng tâm đồng chí đấu tranh. Mọi con
    người đều là kẻ thù. Mọi con vật đều là đồng chí.”
    Đúng lúc ấy xảy ra náo loạn ầm ĩ. Trong lúc Ông Cả phát
    biểu có bốn con chuột lớn bò ra trong hang chuột và ngồi xổm
    lắng nghe. Bầy chó bất chợt nhìn thấy, và may nhờ trong tích
    tắc vẫn kịp chui tọt vào hang mà bầy chuột mới toàn mạng.
    Ông Cả giơ móng lên đề nghị trật tự.
    “Các đồng chí,” nó nói, “có một điểm ta cần thống nhất
    ngay bây giờ. Các động vật hoang như chuột hay thỏ, họ là
    bạn hay là kẻ thù của chúng ta? Chúng ta hãy đưa ra bỏ phiếu.
    Tôi xin đặt câu hỏi với hội nghị: Chuột có phải là đồng chí
    không?”
    Cuộc bỏ phiếu nhoáng cái đã xong, đa số áp đảo công nhận
    chuột cũng là đồng chí. Phiếu chống thì có bốn, ba con chó và
    con mèo, mà như sau này thì phát hiện, mèo ta đã bỏ cả hai
    đằng. Ông Cả tiếp tục:
    “Tôi không cần nhiều lời nữa. Tôi chỉ muốn nhắc lại, luôn
    luôn các đồng chí phải nhớ bổn phận là căm thù Người cùng
    những thói tục của Người. Bất cứ thứ gì đi hai chân đều là kẻ
    thù. Bất cứ thứ gì đi bốn chân hay có cánh đều là bằng hữu.
    Và phải nhớ thêm rằng, đã chiến đấu chống lại Người, chúng
    ta không được thay đổi thành ra giống như chúng. Kể cả sau
    này khuất phục được chúng rồi, các đồng chí cũng không được

    tiêm nhiễm các thói hư tật xấu của chúng. Không con vật nào
    được phép sống trong nhà, hoặc ngủ trên giường, hoặc mặc
    quần áo, hoặc uống bia rượu, hoặc hút thuốc lá, hoặc dùng đến
    tiền, hoặc trao đổi buôn bán. Mọi thói quen của Người đều
    xấu. Và trên hết, không con vật nào được phép áp chế giống
    loài mình. Yếu hay khỏe, khôn ngoan hay chất phác, chúng ta
    cũng là anh em. Không con vật nào được giết hại một con vật
    khác. Mọi con vật đều bình đẳng.
    “Giờ thì, các đồng chí ạ, tôi sẽ kể lại giấc mơ đêm qua. Tôi
    không đủ lời lẽ mà mô tả lại giấc mơ ấy cho các đồng chí. Đấy
    là giấc mơ về mặt đất này một mai khi Người đã hoàn toàn
    vắng bóng. Nhưng nó lại khiến tôi nhớ lại một điều tôi đã quên
    từ lâu lắm. Rất nhiều năm trước, khi tôi còn là một chú lợn
    con, mẹ tôi cùng các bà lợn nái vẫn thường hát một bài hát cổ
    mà họ chỉ nhớ giai điệu cùng bốn chữ đầu. Từ tấm bé tôi đã
    thuộc giai điệu ấy nhưng đã quên bẵng từ lâu rồi. Song đêm
    qua trong giấc mơ, giai điệu kia đã trở về với tôi. Không chỉ
    thế mà cả lời ca cũng trở lại - tôi tin chắc đấy là những lời giới
    súc vật xưa kia đã hát, những lời đã phai khỏi trí nhớ nhiều thế
    hệ nay. Tôi sẽ hát bài đó cho các đồng chí nghe. Tôi đã già rồi,
    giọng cũng đã khản, nhưng được tôi dạy giai điệu rồi thì các
    đồng chí có thể tự hát hay hơn. Bài hát tên là Súc vật Anh
    quốc.
    Ông Cả húng hắng giọng rồi cất tiếng hát. Đúng là giọng nó
    hơi khản như đã nói, nhưng nó vẫn hát rất khỏe, và giai điệu
    bài hát khá náo nức, lai giữa điệu Song thất và Lục bát. Lời bài
    hát như thế này:
    Súc vật Ai Len và Anh quốc
    Ở đất này hay thuộc nơi đâu
    Nghe tin báo trước từ lâu
    Về tương lai đó một màu sáng tươi
    Sớm muộn gì ngày vui cũng đến
    Lũ người kia sẽ xuống bùn đen
    Đồi xanh cho chí ruộng vườn
    Để riêng súc vật an nhàn dạo chơi.

    Mũi ta thôi bị cùm đồng siết
    Vai ta đâu còn ách cày bừa
    Roi đòn dừng quất sớm trưa
    Hàm thiếc đinh sắt cũng vừa gỉ han
    Tới ngày đó giàu sang khó tả
    Biết bao nhiêu của nả, cửa nhà
    Lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, cà
    Của mình cả đấy ai mà dám tranh.
    Đồng ruộng sẽ bừng lên xán lạn
    Nước trong nguồn hết cạn lại đầy
    Gió trời vi vút thế này
    Là mừng súc vật đến ngày tự do
    Vì ngày đó chúng ta chung sức
    Dẫu thân này chết trước bình minh
    Ngựa bò gà ngỗng súc sinh
    Nhất tề tranh đấu mà giành tự do.
    Súc vật Ai Len và Anh quốc
    Ở đất này hay thuộc nơi đâu
    Nghe tin thời báo cho mau
    Kìa tương lai đó một màu sáng tươi.
    Bài hát khiến đám thú vật phấn khích vô kể. Ông Cả còn
    chưa hát hết bài, chúng đã bắt chước hát theo. Cả những con
    vật trì độn nhất cũng đã nhớ được giai điệu cùng vài chữ lõm
    bõm, còn những con thông minh như lợn hay chó thì chỉ vài
    phút là thuộc lòng cả bài. Rồi sau vài lần dượt thử, cả trại hát
    vang Súc vật Anh quốc thành một dàn đồng ca rộn rã. Đàn bò
    rống lên, lũ chó tru lên, đám cừu be lên, tốp ngựa hí lên, bầy
    vịt quạc lên. Chúng hào hứng với bài ca đến nỗi hát liền một
    mạch năm lần không nghỉ, và chắc sẽ còn hát đến sáng nếu
    không bị ngăn cản giữa chừng.

    Không may là tiếng ồn ào đã đánh thức ông Jones, ông ta
    lập tức bật dậy khỏi giường, tin chắc là có cáo vào trong sân.
    Tóm vội cây súng vẫn dựng góc phòng ngủ, ông ta bắn một
    tràng đạn số 6 vào bóng tối. Loạt đạn găm vào tường nhà kho,
    cuộc hội họp cuống cuồng giải tán. Con nào con ấy chạy về
    chỗ ngủ của mình. Bầy chim bay lên sào, đám thú nằm xuống
    rơm, và trong chốc lát cả trại đã thiếp ngủ.

    Chương II
    Ba đêm sau, Ông Cả qua đời trong giấc ngủ bình yên. Xác
    nó được chôn ở cuối vườn quả.
    Lúc đó là đầu tháng Ba. Suốt ba tháng kế, cả trại dồn dập
    những hoạt động bí mật. Bài diễn thuyết của Ông Cả đã mở
    mắt cho những con vật thông minh nhất, đem lại một quan
    niệm sống hoàn toàn mới. Chúng không biết cuộc Khởi nghĩa
    Ông Cả tiên đoán bao giờ thì nổ ra, cũng chẳng có cớ gì mà
    đoán sẽ nổ ra ngay trong thời của mình, nhưng chúng hiểu rõ
    bổn phận của mình là dọn đường cho Khởi nghĩa. Nhiệm vụ
    dạy bảo tổ chức số còn lại nghiễm nhiên rơi vào tay đám lợn,
    những con vẫn được thừa nhận là thông minh nhất trong các
    loài. Nổi trội hơn cả là hai lợn giống trẻ, Tuyết Cầu và Nã Phá
    Luân, đều đang được ông Jones chăm bẵm chờ đẩy đi. Nã Phá
    Luân thuộc giống Berkshire, trại chỉ có một con Berkshire ấy,
    thân đen to lớn trông khá dữ tính ít xởi lởi nhưng có tiếng là
    muốn gì thì làm cho bằng được. Tuyết Cầu là con lợn sôi nổi
    hơn Nã Phá Luân, nói năng hoạt bát mà lại nhiều sáng kiến
    hơn, nhưng được nhận định là tính cách không sâu sắc bằng.
    Còn lại các lợn đực trong trại đều là lợn thịt. Có tiếng nhất là
    một con lợn nhỏ tròn trùng trục tên là Mồm Loa, má phúng
    phính, mắt hấp háy, đi lại nhanh nhẹn, giọng the thé như còi.
    Nó là một tay nói năng dẻo quẹo, cứ mỗi lần tranh luận đến
    chỗ hóc búa lại có cái kiểu loi choi nhảy từ chân này sang
    chân kia, cái đuôi phất phất, chẳng hiểu sao vẻ ấy lại dễ thu
    phục người khác. Xung quanh bảo Mồm Loa có thể nói đen
    thành ra trắng được.
    Bộ ba này đã phát triển lời dạy của Ông Cả thành hẳn một
    hệ tư tưởng hoàn chỉnh, mà chúng đặt tên là Súc vật Chủ
    nghĩa. Mỗi tuần vài tối, sau khi ông Jones đã ngủ, cả ba triệu

    họp kín trong nhà kho lớn, thuyết giải các nguyên lý Súc vật
    Chủ nghĩa cho cả trại. Ban đầu chúng chỉ gặp phải thái độ ngu
    ngốc và dửng dưng. Vài con vật dẫn ra bổn phận phải trung
    thành với ông Jones, mà chúng gọi là “Ông Chủ”, hay phát
    biểu ngù ngờ kiểu như “Nhưng ông Jones nuôi chúng ta ăn
    mà. Ông ấy mà đi thì chúng ta đến chết đói mất thôi.” Những
    con khác thì hỏi đại loại “Việc gì phải quan tâm những chuyện
    sau khi ta chết rồi?” hay là “Nếu cái Khởi nghĩa này đằng nào
    cũng đến thì chúng ta có phấn đấu vì nó hay không cũng đâu
    khác gì?” khiến đám lợn khó khăn lắm mới giảng được cho
    chúng hiểu ra, tư duy thế là trái với tinh thần Súc vật Chủ
    nghĩa. Trùm ngu ngốc là câu hỏi của Mollie, ả ngựa bạch. Câu
    đầu tiên nó thốt ra với Tuyết Cầu là: “Khởi nghĩa xong í, có
    còn đường nữa hông?”
    “Không,” Tuyết Cầu đáp chắc nịch. “Trong trại chúng ta
    không có phương tiện sản xuất đường. Hơn nữa tại sao phải
    cần đường? Ai cũng sẽ được ăn yến mạch cỏ khô thỏa thích.”
    “Thế tui có được tết nơ trên bờm hông?” Mollie hỏi tiếp.
    “Đồng chí Mollie,” Tuyết Cầu đáp, “mấy cái nơ đồng chí
    mê thích ấy đều là xiềng xích tôi đòi. Đồng chí không thấy là
    tự do còn đáng giá hơn nơ với nút ư?”
    Mollie đồng ý, nhưng cô ả có vẻ không tin tưởng lắm.
    Đàn lợn còn phải đấu tranh vất vả hơn nữa để dập tắt những
    lời dối trá mà Tiên Tri, con quạ nhà, gieo rắc. Là vật cưng của
    chủ trại Jones, Tiên Tri không những giỏi do thám và đưa
    chuyện, mà còn tài nói như rót vào tai. Nó kể xằng về một cõi
    huyền bí tên là Đỉnh Kẹo Bông, nơi mọi con vật chết rồi đều
    đến đó. Nơi này ở đâu đó trên trời, ngay trên mấy tầng mây,
    Tiên Tri kể. Trên Đỉnh Kẹo Bông một tuần có bảy Chủ nhật,
    quanh năm cỏ ba lá xanh mướt, đường viên với bánh hạt lanh
    mọc ngay bờ giậu. Lũ súc vật đều ghét Tiên Tri vì nó chỉ tán
    láo cả ngày, không chịu làm việc, nhưng có vài con lại tin
    chuyện Đỉnh Kẹo Bông, khiến đám lợn phải khô cổ nói lý cho
    chúng hiểu không có chốn như thế.
    Học trò trung thành nhất của chúng là cặp ngựa kéo xe thồ,
    Đấu Sĩ và Cỏ Ba Lá. Cả hai nếu cần tự suy nghĩ cho ra vấn đề
    thì rất ù lì, nhưng một khi đã coi lợn là thầy thì chúng nghe gì

    cũng như nuốt lấy, rồi bằng những lý lẽ đơn giản truyền lại
    cho những con khác. Không một buổi họp kín nào trong kho
    vắng mặt đôi ngựa, chúng luôn bắt nhịp bài Súc vật Anh quốc
    mà buổi nào cũng hát bế mạc.
    Sự thể hóa ra là Khởi nghĩa thắng lợi sớm hơn và dễ dàng
    hơn bất kỳ kẻ nào từng hình dung. Những năm trước, dù có
    phũ tay cai quản, ông Jones vẫn là một nhà nông cừ, nhưng
    gần đây ông ta đã đến hồi mạt vận. Từ độ kiện cáo mất tiền
    ông ta suy sút tinh thần hẳn, lại còn quay sang rượu chè quá
    độ. Có khi cả mấy ngày liền, ông ta ườn người trên cái ghế
    dựa tay tròn trong bếp, mắt đọc báo mồm nốc bia, thỉnh
    thoảng nhúng vỏ bánh vào bia ném cho Tiên Tri. Kẻ ăn người
    làm đâm ra lười biếng, dối trá, ruộng đồng toàn cỏ, chuồng trại
    tốc mái chả ai thay, hàng giậu xơ xác chả ai chăm, lũ súc vật
    ngày nào cũng hóp bụng.
    Tháng Sáu tới, cỏ khô sắp đến lúc cắt. Đêm trước ngày
    Trung Hạ rơi vào thứ Bảy, ông Jones vào làng Willingdon,
    uống say mèm ở quán Sư Tử Đỏ đến tận trưa Chủ nhật mới
    mò về trại. Từ sáng sớm, người làm đã vắt sữa bò rồi bỏ đi săn
    thỏ, chẳng thèm cho gia súc ăn. Ông Jones về đến nhà lập tức
    lăn ra ngủ trên sô pha phòng khách, tờ News of the World đậy
    trên mặt, cho nên đến tối mịt lũ súc vật đói vẫn hoàn đói. Cuối
    cùng chúng không nhịn nổi nữa. Một con bò sữa lùa sừng húc
    tung cửa kho ngũ cốc, lũ súc vật sục vào các đấu ăn thỏa thuê.
    Đúng lúc đó ông Jones tỉnh dậy. Trong nháy mắt, ông ta cùng
    bốn người làm đã vào đến kho, roi da lăm lăm. Quật tới tấp tứ
    phía. Lũ súc vật đói ăn đã đến hồi hết chịu nổi. Nhất tề như
    một, dù chẳng hề bàn tính trước, tất cả lăn xả vào mấy kẻ bạo
    ngược. Jones với người làm bỗng thấy sừng húc vó nện bốn
    phía xông tới. Sự tình đã vượt khỏi tầm kiểm soát của họ. Họ
    chưa thấy gia súc xử sự như thế này bao giờ, và cảnh tượng
    những sinh vật ngày thường vẫn đánh đập hành hạ mặc tình
    bỗng dưng vùng dậy khiến họ sợ muốn bở vía. Cố gắng chống
    trả thêm được một chốc, cả bọn co cẳng tháo lui. Một phút
    sau, cả năm người đã vắt chân lên cổ mà chạy dọc đường mòn
    dẫn xuống đường cái, lũ gia súc đại thắng đuổi dài đằng sau.
    Bà Jones từ cửa phòng ngủ ngó ra, thấy cảnh tượng đó vội
    tống ít đồ đạc vào cái túi thổ cẩm rồi theo đường khác lẻn ra
    khỏi trang trại. Tiên Tri nhảy khỏi sào đập cánh bay theo bà,

    miệng kêu quàng quạc. Trong lúc đó lũ gia súc đã đuổi Jones
    cùng người làm ra tận đường cái, rồi đẩy sầm cái cổng gỗ
    gióng ngang chặn đằng sau bọn họ. Vậy là, dù chúng chưa thật
    hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Khởi nghĩa đã kết thúc thắng lợi:
    Jones đã bị trục xuất, còn Trại Nông Trang đã về tay chúng.
    Mấy phút đầu, lũ súc vật như còn chưa tin vào vận may của
    mình. Việc đầu tiên là chúng họp nhau chạy tế một vòng khắp
    các ngóc ngách trang trại như để xem có con người nào còn ẩn
    núp ở góc nào không, rồi chúng lại phi về khu chuồng trại,
    quyết tâm quét sạch mọi vết tích đáng ghét còn lại thời Jones
    cai trị. Buồng treo yên cương cuối tàu ngựa bị phá toang,
    những hàm thiếc, khoen mũi, xích chó, những lưỡi dao nghiệt
    ngã ông Jones vẫn dùng thiến cừu hoạn lợn bị quẳng ráo
    xuống giếng.

    Dây cương, đai mũi, miếng che mắt cùng bao mõm thức ăn
    tủi nhục, đều được ném cả vào đống lửa đốt rác trong sân. Roi
    da cùng chung số phận. Mọi con vật đều nhảy cẫng reo hò khi
    thấy đống roi da bắt lửa đùng đùng. Tuyết Cầu còn quăng vào
    lửa cả mấy cái nơ vẫn thắt vào bờm và đuôi ngựa mỗi dịp chợ
    phiên.
    “Nơ cũng phải coi là quần áo,” nó nói, “tức cũng là dấu
    hiệu của con người. Tất cả súc vật đều phải trần chuồng.”
    Nghe thấy thế, Đấu Sĩ liền ngoạm cái nón rơm nhỏ vẫn đội
    vào mùa hè để ruồi khỏi vào tai, rồi hất luôn vào lửa cùng mấy
    thứ còn lại.
    Chẳng mấy chốc lũ gia súc đã tiêu hủy hết mọi thứ nhắc
    nhở chúng nhớ lại thời của Jones. Nã Phá Luân dẫn tất cả về
    lại kho ngũ cốc, chia cho mỗi con khẩu phần lúa mì gấp đôi
    thường ngày, chó thì mỗi con được hai chiếc bánh quy. Tiếp đó
    chúng đồng ca liên tiếp bảy lượt Súc vật Anh quốc từ đầu đến

    cuối, rồi chúng về chuồng, ngủ một giấc ngon lành chưa từng
    có từ trước đến nay.
    Nhưng chúng vẫn dậy đúng bình minh như thường lệ, và
    sực nhớ ra chiến thắng huy hoàng vừa hôm trước, tất cả theo
    nhau đổ ra bãi chăn.
    Vào sâu trong bãi một chút có một gò đất, từ đó có thể bao
    quát gần hết trang trại. Lũ gia súc chạy ùa lên đỉnh gò, đưa
    mắt nhìn quanh dưới ánh ban mai trong trẻo. Phải, tất cả là của
    chúng - mọi thứ hiện ra trước mắt đều là của chúng! Ý nghĩ ấy
    khiến chúng say lòng, chúng nhảy cỡn khắp nơi, chúng bật
    tung lên không từng bước dài khoái trí. Chúng nằm lăn giữa
    sương mai, chúng ngoạm đầy miệng cỏ mùa hè ngọt lịm,
    chúng đá vung từng nắm đất đen, hít căng hơi đất nồng nàn.
    Rồi chúng đi một vòng xem xét khắp trang trại, đến mỗi nơi
    lại lặng người thán phục, từ chân ruộng mì, đồng cỏ khô, đến
    vườn quả, hồ nước ăn, khóm rừng nhỏ. Cứ như thể lần đầu
    chúng nhìn thấy những thứ ấy, thậm chí ngay lúc này chúng
    vẫn chưa tin được là tất cả đã về tay mình.

    Rồi chúng nối đuôi nhau quay lại khu chuồng trại, đứng im
    lặng ngoài cửa ngôi nhà chủ. Cả nhà này cũng đã về tay
    chúng, nhưng chúng sợ không dám vào. Song le chỉ lát sau,
    Tuyết Cầu và Nã Phá Luân đã huých bật cửa cho lũ súc vật
    xếp hàng một đi vào, bước từng bước thận trọng để khỏi xô
    động thứ gì. Chúng rón rén từ phòng này sang phòng kia, khẽ
    khàng không dám nói to, và trố mắt nhìn cảnh sống xa hoa
    không tin nổi, nào giường nệm lông, nào gương soi, nào sô
    pha nhồi lông ngựa, nào thảm len dệt nổi, nào tranh thạch bản
    Nữ hoàng Victoria treo trên bệ lò sưởi phòng khách. Tất cả
    còn đang xuống cầu thang thì phát hiện không thấy Mollie

    đâu. Quay ngược lên, các con khác thấy nó còn ở trong phòng
    ngủ chính. Nó vừa thấy được cái nơ xanh lơ trên bàn trang
    điểm của bà chủ, còn đang ướm thử trên vai và ngắm nghía
    mình trong gương, trông rất ngớ ngẩn. Những con khác
    nghiêm khắc quở mắng nó, rồi tất cả ra khỏi nhà. Mấy tảng
    thịt muối treo trong bếp được đem ra chôn cất, thùng bia trong
    bếp phụ bị Đấu Sĩ đá một cú bẹp rúm, nhưng ngoài ra chúng
    không đụng đến thứ gì khác trong nhà. Tất cả đồng tình ra
    quyết nghị tại chỗ, bảo tồn ngôi nhà chủ làm nhà lưu niệm. Ai
    nấy đều nhất trí rằng không con vật nào được đến sống trong
    nhà.
    Lũ súc vật ăn sáng xong, Tuyết Cầu và Nã Phá Luân lại
    triệu tập cả trại.
    “Các đồng chí,” Tuyết Cầu nói, “giờ đã sáu rưỡi rồi mà
    chúng ta còn một ngày dài trước mắt. Hôm nay ta sẽ bắt đầu
    thu hoạch cỏ khô. Nhưng trước hết còn một vấn đề này nữa.”
    Bấy giờ đàn lợn mới tiết lộ rằng ba tháng qua chúng đã tự
    học mà biết đọc biết viết, nhờ cuốn học vần cũ của con cái ông
    Jones bị quẳng ra đống rác. Nã Phá Luân cho tìm mấy lọ sơn
    đen trắng, tiếp đó dẫn đường cả bọn xuống cánh đồng gỗ
    gióng ngang mở ra đường cái. Rồi Tuyết Cầu (là kẻ viết giỏi
    nhất bọn) cặp chổi sơn giữa hai móng, xóa bỏ chữ TRẠI
    NÔNG TRANG trên thanh ngang trên cùng mà viết thay vào
    đó TRẠI SÚC VẬT. Đấy sẽ là tên trại từ giờ trở đi. Sau đó tất
    cả quay lại khu chuồng trại, Tuyết Cầu và Nã Phá Luân lại cho
    lấy cái thang, sai đặt dựa vào vách tường cuối nhà kho lớn.
    Chúng giải thích tiếp, sau ba tháng tìm tòi, đàn lợn đã rút gọn
    thành công các nguyên tắc Súc vật Chủ nghĩa thành chỉ còn
    bảy điều răn. Bây giờ bảy điều răn ấy sẽ được viết lên tường,
    trở thành bộ luật bất di bất dịch, súc vật trong Trại Súc Vật sẽ
    theo đó mà sống vĩnh viễn về sau. Hơi chật vật (vì lợn đứng
    thăng bằng trên thang không phải dễ) Tuyết Cầu trèo lên bắt
    tay vào việc, Mồm Loa đứng dưới vài bậc giơ lọ sơn. Các điều
    răn được viết chữ trắng lớn trên tường quét nhựa đường đen,
    cách ba mươi thước vẫn đọc rõ. Tất cả là thế này:
    BẢY ĐIỀU RĂN
    1. Bất cứ thứ gì đi hai chân đều là kẻ thù.

    2. Bất cứ thứ gì đi bốn chân, hay có cánh, đều là bằng hữu.
    3. Không con vật nào được mặc quần áo.
    4. Không con vật nào được ngủ trên giường.
    5. Không con vật nào được uống bia rượu.
    6. Không con vật nào được giết con vật khác.
    7. Mọi con vật đều bình đẳng.
    Chữ viết rất ngay ngắn, và ngoài “bằng hữu” bị viết thành
    “bằng hĩu” và một chữ “Đ” viết ngược thì từ nào cũng đúng
    chính tả. Tuyết Cầu đọc to một lượt cho tất cả cùng nghe. Mọi
    con vật đều gật gù tán đồng hết thảy, những con sáng dạ lập
    tức nhẩm thuộc lòng các điều răn.
    “Bây giờ, hỡi các đồng chí,” Tuyết Cầu ném chổi sơn kêu
    lớn, “ra đồng thôi! Chúng ta hãy thi đua lập thành tích thu
    hoạch chóng hơn của Jones cùng đám người làm của hắn.”
    Nhưng đúng lúc đó, ba chị bò cái vốn đã nhấp nhổm từ nãy
    giờ bật rống mấy tiếng lớn. Chúng chưa được vắt sữa cả hai
    mươi tư giờ rồi, mấy bầu vú căng muốn nứt. Nghĩ ngợi một
    lúc, đàn lợn cho mang xô đến rồi bắt tay vắt sữa khá thành
    công, móng lợn hóa ra rất hợp việc này. Một lúc sau đã có năm
    xô sữa béo ngậy sủi bọt, nhiều con vật đưa mắt nhìn khá hứng
    thú.
    “Bao nhiêu sữa thế này sẽ để làm gì?” ai đó hỏi.
    “Thỉnh thoảng Jones lấy trộn vào cám cho chúng tôi đấy,”
    một gà mái cho biết.
    “Bận tâm đến sữa làm gì, các đồng chí!” Nã Phá Luân đứng
    chắn trước dãy xô kêu lớn. “Cái đó sẽ có người lo. Vụ thu
    hoạch quan trọng hơn nhiều. Đồng chí Tuyết Cầu sẽ dẫn
    đường. Tôi đợi vài phút sẽ theo ngay. Tiến lên, các đồng chí!
    Đồng cỏ đang chờ.”
    Vậy là lũ súc vật tiến quân ra đồng cắt cỏ, và đến tối khi
    chúng trở về, thì chẳng thấy sữa đâu nữa.

    Chương III
    Lôi được cỏ vào, chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt biết bao!
    Nhưng công khó cũng ra thành quả, vụ thu hoạch còn thành
    công hơn cả mong chờ.
    Làm việc có nhiều lúc thật khó: công cụ thiết kế là cho
    người dùng chứ không phải súc vật, đã thế chẳng con vật nào
    dùng được những món phải đứng trên chân sau nên càng bất
    lợi. Nhưng đàn lợn khôn ngoan nghĩ ra được cách khắc phục
    mọi khó khăn. Lại thêm đôi ngựa hiểu rõ cánh đồng đến từng
    tấc, thực tế là chúng nắm chắc việc cắt cỏ đánh đống hơn
    nhiều so với Jones cùng đám người làm. Đàn lợn không trực
    tiếp mó tay, chỉ giám sát chỉ đạo số còn lại...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS & THPT PHẠM HỒNG THÁI - CHƯ PĂH - GIA LAI!