TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg BANDODANCU.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg TDMNPB_tunhien.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam

    Bài 8 Cái tôi thế giới độc đáo

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: may
    Người gửi: Trần Ngọc Ngoan (trang riêng)
    Ngày gửi: 03h:51' 02-10-2023
    Dung lượng: 185.5 KB
    Số lượt tải: 115
    Số lượt thích: 0 người
    Bài 8: Cái tôi – Thế giới độc đáo
    Soạn bài Tri thức ngữ văn trang 59 Tập 2 Chân trời sáng tạo
    1. Tượng trưng: là loại hình ảnh mang tính trực quan, sinh động nhưng
    hàm nghĩa biểu đạt những tư tưởng, quan niệm, khái niệm trừu tượng.
    Chẳng hạn, chim bồ câu tượng trưng cho hoà bình, hoa hồng đỏ tượng
    trưng cho tình yêu hoặc lá cờ tượng trưng cho quốc gia.
    2. Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình: Thông thường, thơ trữ tình diễn
    tả thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình thông qua những chi tiết, hình ảnh
    cụ thể, gợi cảm. Tuy nhiên, một số tác phẩm thơ trữ tình còn đi sâu vào
    những vấn đề triết học, thông qua những chi tiết có tính tượng trưng cao.
    Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi
    cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính triết lý, đánh thức suy
    ngẫm của người đọc về bản chất sâu xa của con người và thế giới. Chẳng
    hạn, hình ảnh tháp Bayon trong bài thơ Tháp Bayon bốn mặt (Chế Lan
    Viên) tượng trưng cho thế giới tâm hồn đa diện, phức tạp của con người:
    Anh là tháp Bayon bốn mặt
    Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
    Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
    Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình.
    Trong nhiều trường hợp, yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình còn gắn với
    sự đề cao nhạc tính của thơ (sức gợi cảm của nhịp thơ, vần, thanh điệu...)
    và sự tương giao giữa các giác quan (sự hoà hợp của các ấn tượng thính
    giác, thị giác, xúc giác...).
    3. Hình thức và cấu tử trong thơ trữ tình
    Hình thức trong thơ trữ tình là tổng hòa của thể thơ, câu thơ, lời thơ, giọng
    điệu, nhịp, vẫn, hình ảnh... trong thơ trữ tình. Tất cả được lựa chọn, liên kết
    để thể hiện chủ đề, tư tưởng chung của tác phẩm. Chẳng hạn, hình ảnh, từ
    ngữ, giọng điệu trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân) toát lên
    âm hưởng bị tráng hào hùng.

    Cấu tứ là cách thức triển khai mạch cảm xúc và tổ chức hình tượng trong
    tác phẩm thơ trữ tình. Chẳng hạn, trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam (Lê
    Anh Xuân), cấu tứ bài thơ là sự khái quát từ tư thế hi sinh hiên ngang của
    anh Giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất đến hình ảnh “dáng
    đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ”.
    4. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
    Lặp cấu trúc là biện pháp tổ chức những vế câu hoặc những câu có cùng
    một kết cấu ngữ pháp, nhằm nhấn mạnh ý tưởng và tạo sự nhịp nhàng, cân
    đối cho văn bản. Ví dụ: Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một.
    Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi.
    (Hồ Chí Minh)
    Lưu ý: Chúng ta có thể bắt gặp biện pháp lặp cấu trúc trong phép đối. Đối là
    cách lặp lại cấu trúc ngữ pháp có sự đối lập về từ ngữ, thanh điệu…

    Soạn bài Nguyệt cầm - Chân trời sáng tạo
    * Chuẩn bị đọc:
    Câu hỏi (trang 60 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy hình dung cảm
    giác của bạn khi nghe tiếng đàn trong một đêm trăng.
    Trả lời:
    - Cảm giác buồn bã, u sầu khi chìm trong khung cảnh lặng thinh của
    vạn vật.
    * Trải nghiệm cùng văn bản:
    1. Tưởng tượng: Hình ảnh “mỗi giọt rơi tàn” gợi tả điều gì?
    - Hình ảnh “mỗi giọt rơi tàn” gợi liên tưởng tới hình ảnh của một thứ
    chất lỏng đang rơi chầm chậm rồi tắt hẳn. Hay nói cách khác nhà
    thơ đã dùng dùng âm thanh để miêu tả cái hình ảnh, ánh trăng
    buông xuống như những giọt lệ sầu thương.
    2. Tưởng tượng: Bạn hình dung âm anh “long lanh tiếng sỏi” như
    thế nào?
    - Âm thanh “long lanh tiếng sỏi” là một thứ âm thanh lạ kỳ, độc đáo.

    3. Suy luận: Hình ảnh “biển” và “chiếc đảo” có mối quan hệ như thế
    nào?
    - Hình ảnh “biển” và “chiếc đảo” vốn luôn là hai hình ảnh gắn liền,
    song hành cùng với nhau.
    + “Biển”: cái mênh mông to lớn kết hợp với “chiếc đảo” – không gian
    hẹp, ám chỉ tâm hồn
    => Mối quan hệ giữa biển và chiếc đảo thể hiện tâm hồn thi sĩ giao
    thoa với âm nhạc và ánh trăng.
    * Suy ngẫm và phản hồi
    Nội dung chính:
    Nguyệt cầm là một bài thơ mới, âm hưởng cổ điển và lãng mạn.
    Xuân Diệu nghe đàn trên sông Hương, chạnh nhớ hận tình Trương
    Chi - Mỵ Nương mà làm nên Nguyệt cầm.

    Câu 1 (trang 61 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hình ảnh trăng nhập vào
    dây đàn ở khổ thơ đầu tiên có gì độc đáo so với hình ảnh trăng và
    đàn trong tác phẩm nghệ thuật (văn học hoặc hội hoạ, âm nhạc) mà
    bạn biết?
    Trả lời:
    - Hình ảnh trăng nhập vào dây đàn ở khổ thơ đầu tiên đem nhiều vẻ
    đẹp độc đáo, đặc sắc hơn so với hình ảnh trăng và đàn trong tác
    phẩm nghệ thuật (văn học hoặc hội họa, âm nhạc) mà em biết.
    + Hình ảnh trăng nhập vào dây đàn không chỉ gợi ra sự giao hòa
    của trăng- đàn mà nó còn gợi ra sự hợp nhất thành một giữa chúng.

    + Nhưng sự giao hòa tuyệt đối này gợi ra cho người đọc sự choáng
    ngợp, đồng thời cảm nhận được hơi lạnh vô hình len lỏi, tác động
    vào tâm trí, trong dòng cảm nhận “Trăng nhập vào đây cung nguyệt
    lạnh”. 
    => Đây là nét tài hoa tạo nên một Xuân Diệu khác biệt. Hiếm có thể
    thấy một hình ảnh trăng và đàn ở tác phẩm nào lại hàm ý, đặc sắc
    như “Nguyệt Cầm” - Xuân Diệu.
    Câu 2 (trang 61,62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2):  Kẻ bảng sau vào vở
    và liệt kê vào cột [1], cột [2] một số chi tiết nghệ thuật thể hiện sự
    tương giao của các giác quan trong cột [3]:
    Khổ thơ

    Ánh
    sáng Âm thanh
    Hình ảnh thể hiện sự
    (trăng)
    tương giao của các giác
    (đàn – âm nhạc)
    quan [3]
    [1]
    [2]

    1

    … giọt rơi tàn như lệ ngân

    2

    … bóng sáng bỗng rung
    mình

    3

    Long lanh tiếng sỏi…

    4

    … ánh nhạc: biển pha lê…

     Từ bảng trên, cho biết: bạn cảm nhận thế nào về sự kết hợp giữa
    các cảm giác và tác dụng nghệ thuật của sự kết hợp ấy trong bài
    thơ; từ đó, giải thích ý nghĩa của nhan đề Nguyệt cầm.
    Trả lời:
    Khổ
    thơ

    Ánh sáng (trăng)

    Âm thanh

    [1]

    (đàn – âm nhạc) [2]

    1

    - giọt ánh sáng (giọt - giọt đàn (âm thanh … giọt rơi tàn như lệ
    nước lấp lánh sáng)
    vang từng tiếng)
    ngân
    - rơi tàn (giọt nước - rơi tàn (âm thanh
    sáng rơi tan thành vang vọng và lặng
    từng hạt nhỏ)

    Hình ảnh thể hiện sự
    tương giao của các
    giác quan [3]

    - ngân (bạc)

    dần)
    - ngân (âm vang)

    2

    Bóng hình sáng mờ, Âm thanh ngân rung
    chuyển động.

    … bóng sáng bỗng
    rung mình

    3

    Viên sỏi trắng sáng Âm thanh những viên Long lanh tiếng sỏi…
    phản chiếu ánh sáng sỏi va vào nhau trong
    vắt.

    4

    - ánh nhạc: không - ánh nhạc: âm thanh … ánh nhạc: biển pha
    gian tỏa sáng.
    réo rắt.
    lê…
    - biển pha lê: không - biển pha lê: âm
    gian trong trẻo, lạnh thanh vang vọng khắp
    lẽo.
    không gian.

    - Nhận xét:
    + Không gian trong trẻo, vắng lặng, càng về cuối càng sáng, bao la,
    lộng lẫy; âm thanh trong vắt; cảm giác lạnh lẽo rợn người; hình ảnh
    nửa hư, nửa thực... Sự giao thoa cảm giác đó mang lại sự hàm súc
    cho câu thơ, khuấy động tất cả các giác quan của người đọc, giúp
    người đọc hình dung một thế giới nghệ thuật với nhiều cung bậc,
    chiều kích khác nhau.
    + Nhan đề Nguyệt cầm: Sự kết hợp giữa nguyệt (ánh trăng - ăn
    lượng thị giác) và cầm (đàn – ấn tượng thính giác), đồng thời có sự
    giao thoa với ý nghĩa của từ ghép nguyệt cảm (đàn nguyệt, một loại
    đàn dây cô).
    Câu 3 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Các cảm giác “lạnh” (khổ
    1), “rung mình” (khổ 2), “ghê như nước” (khổ 3), “rợn” (khổ 4) ... là
    cảm giác của ai và toát ra từ đâu?
    Trả lời:
    - Cảm giác “lạnh” (khổ 1) và “ghê như nước” (khổ 3) có thể đến từ
    dây đàm kim loại (cảm nhận xúc giác của người chơi đàn khi chạm
    vào dây dàn) hoặc cũng có thể đến từ âm sắc trong vắt, cao vút của
    tiếng đàn (cảm nhận thính giác của chủ thể trữ tình khi lắng nghe

    tiếng đàn cất lên trong đêm vắng). Tiếng đàn chậm rãi, buồng từng
    nốt ở khổ 1 (tạo cảm giác lạnh đột ngột) và nhanh, réo rắt ở khổ 3
    (tạo ấn tượng như dòng nước chảy).
    - Cảm giác “rung mình" (khổ 2) đến từ sự mờ nhòe của “bóng sáng”,
    đó có thể là bóng trăng mờ ảo, huyền hoặc trong không gian đêm
    khuya (cảm nhận xúc giác của bóng trăng chuyển hoá thành cảm
    nhận xúc giác của chủ thể trữ tình).
    - Cảm giác “rợn” (khổ 4) là cảm giác của chủ thể trữ tình khi bạn bè
    xung quanh là "ánh nhạc: biển pha lễ” tràn ngập ánh sáng (cảm
    nhận thị giác) và tràn ngập một dòng âm thanh trong trẻo như pha lê
    với tiết tấu nhanh, hối hả (cảm nhận thính giác).
    Câu 4 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chủ thể trữ tình trong bài
    thơ đã thể hiện cảm xúc gì khi lắng nghe tiếng đàn? Các chi tiết nào
    trong bài thơ cho thấy điều đó?
    Trả lời:
    - Cảm xúc của chủ thể trữ tình chuyển biển từ lạnh lẽo, u buồn (khổ
    1, qua các chi tiết dây cung nguyệt lạnh, trung thương, trắng nhớ,
    đàn buồn, đàn lặng) đến bởi hỏi, run rẩy khi tưởng nhớ những loài
    hoa nghệ thuật trong quá khứ (khổ 2 và khổ 3, qua các chi tiết như
    bóng sáng rung mình, nương tử đã chết, đàn ghê như nước, nhớ
    Tâm Dương,...) và rợn ngợp, rùng mình khi cảm nhận nỗi cô đơn
    muôn đời của những tài hoa nghệ thuật (khổ 4, qua các chi tiết như
    chiếc đảo, rợn bốn bể, sâu âm nhạc, sao Khuê).
    Câu 5 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định ý nghĩa tượng
    trưng của hình ảnh người phụ nữ ở khổ thơ thứ hai, bến Tầm
    Dương ở khổ thơ thứ ba và sao Khuê ở khổ thơ cuối. Chỉ ra mối liên
    hệ giữa những hình ảnh này. Từ đó xác định cấu tứ của bài thơ.
    Trả lời:
    - Hình ảnh người phụ nữ trong khổ thứ hai, bến Tầm Dương ở khổ
    thứ ba và sao Khuê ở khổ thứ tư: Đó là hình ảnh những người nghệ
    sĩ tài hoa bạc mệnh trong lịch sử nghệ thuật, điểm chung giữa họ là
    sự tài hoa và cuộc đời cô đơn, lẻ loi, là số phận bị xã hội lãng quên
    (người con gái vô danh qua đời khi tuổi còn trẻ, người phụ nữ chơi
    đàn tì bà trên bến sông Tầm Dương trong Tì bà hành của Bạch Cư

    Dị thời trẻ dập dìu kẻ đưa người đón nhưng sau đó bị quên bỏ, sống
    cô độc bên bên sông; sao Khuê là biểu tượng của tài hoa văn
    chương nghệ thuật, ngôi sao nắm giữ vận mệnh của các bậc văn
    nhân). Ý nghĩa tượng trưng: Cái đẹp của nghệ thuật và nỗi đau, nỗi
    cô đơn ngàn đời của người nghệ sĩ trên hành trình sáng tạo nghệ
    thuật.
    - Hình tượng tổng quát kiến tạo nên cấu tứ bài thơ là sự hoà nhập
    giữa tiếng đàn hiện tại và những kiếp nghệ sĩ tài hoa bạc mệnh
    trong quá khứ.
    Câu 6 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định cách ngắt nhịp
    và phối hợp thanh điệu trong bài thơ. Từ đó, nhận xét về nhạc điệu
    của bài thơ và mô tả hình dung của bạn về tiếng đàn nguyệt trong
    đêm lạnh.
    Trả lời:
    - Thể thơ thất ngôn, từ ngữ mang màu sắc cổ điển, nhiều từ Hán
    Việt và nhiều hình ảnh lấy từ văn học cổ, nhịp 4/3 cổ diễn, văn chân,
    vẫn chính, sử dụng nhiều âm tiết mở (ân, inh, anh, ở). Tất cả tạo
    nên âm hưởng hoài cổ, nhạc điệu âm vang cho bài thơ, giúp người
    đọc hình dung tiếng đàn vang xa trong đêm trăng.
    Bài tập sáng tạo (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Vẽ một bức
    tranh thể hiện hình dung của bạn sau khi đọc bài thơ hoặc viết một
    đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) nêu ấn tượng sâu sắc nhất của
    bạn về bài thơ.
    Trả lời:

    Bài thơ Nguyệt Cầm là một thi phẩm đặc sắc của ông hoàng thơ
    tình Xuân Diệu. Thi sĩ chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái thơ
    tượng trưng Pháp, trước hết là Baudelaire. Bài này là trường hợp
    thể hiện tuyệt vời quan niệm về sự tương giao giữa các giác quan
    của Baudelaire (Correspondances): tiếng nhạc, ánh sáng và hơi
    lạnh – thính giác, thị giác và xúc giác, ba giác quan đều bén nhọn
    “tương giao” với nhau, diễn tả những rung cảm, đúng ra, những run
    rẩy của “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề”. ”Nguyệt cầm” là bài thơ
    Xuân Diệu viết để thể hiện những cảm xúc, tình cảm đầy chất trữ
    tình, đặc biệt là những ẩn ý của cảm xúc ấy được thể hiện qua một
    hình ảnh mới lạ “nguyệt cầm”. Với nhan đề của bài thơ này ta có thể
    liên tưởng về sự hòa quyện của ánh trăng trong bản nhạc của người
    nghệ sĩ, sự hòa quyện này không chỉ tạo nên khung cảnh tuyệt sắc
    mà còn tạo ra âm thanh du dương, quyến rũ, hấp dẫn người nhìn,
    người xem. Không gian được nhà thơ Xuân Diệu gợi mở ra ở đây
    chính là không gian của một đêm trăng, đối tượng soi chiếu của ánh
    trăng đó được gợi nhắc cụ thể ở đây, chính là “cung nguyệt”. Thể
    hiện sự tiếp xúc giữa ánh trăng với cung đàn, Xuân Diệu đã thể hiện
    thông qua động từ “nhập”, từ này có sức ám ảnh mạnh mẽ, vì nó
    không chỉ gợi ra sự giao hòa của trăng- đàn mà nó còn gợi ra sự
    hợp nhất thành một giữa chúng. Ngay câu thơ đầu tiên, nhà thơ
    Xuân Diệu đã tạo cho bài thơ một âm hưởng trầm buồn, và nỗi buồn
    ấy được thể hiện ngay trong câu thơ sau đó “Trăng thương, trăng
    nhớ, hỡi trăng ngần”, vầng trăng trong cái nhìn của nhà thơ cũng
    đâu phải là một hiện tượng của thiên nhiên mà nó như một con
    người, có sự đa cảm nhất định, biết thương, biết nhớ. Tương đồng
    với dòng xúc cảm của vầng trăng, cung đàn dường như cũng u uất,

    lặng lẽ trong giai điệu “Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm”, và trong
    cách miêu tả của nhà thơ, ta lại liên tưởng đến đàn và trăng như
    một đôi tình nhân, và giữa họ là một chuyện tình buồn “Mỗi giọt rơi
    tàn như lệ ngân”, “giọt rơi” ở đây có thể là ánh trăng. Hiểu như vậy
    ta có thể thấy được cái độc đáo trong cảm nhận của Xuân Diệu, vì
    nhà thơ đã dùng âm thanh để miêu tả cái hình ảnh, ánh trăng buông
    xuống như những giọt lệ sầu thương. Nguyệt Cầm là một thi phẩm
    hay mang đậm phong cách thơ Xuân Diệu. Bài thơ làm nên một
    tiếng vang lớn trong nền văn học nước nhà.

    Soạn bài Thời gian - Chân trời sáng tạo
    * Chuẩn bị đọc:
    Câu hỏi (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2):  Khi hình dung về thời
    gian, người ta thường nghĩ đến những từ ngữ nào?
    Trả lời:
    - Khi hình dung về thời gian, người ta thường nghĩ đến những từ
    ngữ: chảy trôi, năm tháng, qua đi, tuổi trẻ…
    * Trải nghiệm cùng văn bản:
    1. Tưởng tượng: Hãy tưởng tượng âm thanh tiếng sỏi rơi trong
    lòng giếng cạn.
    - Âm thanh tiếng sỏi rơi trong lòng giếng cạn: vội vã, vang vọng…
    * Suy ngẫm và phản hồi:
    Nội dung chính: 
    Bài thơ “Thời gian” giãi bày tâm sự về cuộc sống, nghệ thuật và tình
    yêu sau một chặng đường dài buồn vui đã trải qua.

    Câu 1 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Dòng thơ đầu tiên cho
    thấy nhà thơ hình dung như thế nào về thời gian và về quan hệ giữa
    thời gian với con người?
    Trả lời:
    - Dòng thơ đầu tiên cho thấy nhà thơ hình dung thời gian như một
    dòng nước trôi chảy không ngừng, con người không thể níu kéo,
    không thể nắm giữ thời gian.
    Câu 2 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hình ảnh chiếc lá khô và
    “tiếng sỏi trong lòng giếng cạn” gợi cho bạn cảm nhận gì về thời
    gian?
    Trả lời:
    - Hình ảnh chiếc lá khô và tiếng sỏi trong lòng giếng cạn có thể thể
    hiện sự suy tàn, khô héo, mất dần sức sống. Thời gian trôi đi khiến
    cho sự sống và cái đẹp cũng tàn phai.
    Câu 3 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy chỉ ra:
    a. Điểm tương đồng giữa các hình ảnh “những câu thơ”, “những bài
    hát” và “đôi mắt em” ở sáu dòng thơ cuối.
    b. Điểm khác biệt giữa các hình ảnh vừa nêu (ở sáu dòng thơ cuối)
    với hình ảnh “những chiếc lá” (ở sáu dòng thơ đầu).
    Trả lời:
    a. Điểm tương đồng giữa các hình ảnh những câu thơ, những bài
    hát và đôi mắt em ở sáu dòng thơ cuối là những hình ảnh gợi cho ta
    nghĩ đến cái đẹp trường tồn của nghệ thuật và tình yêu, vì nó sống
    mãi trong tâm hồn con người.
    b. Điểm khác biệt giữa những hình ảnh trên với hình ảnh những
    chiếc lá khô ở sáu dòng thơ đầu: một bên là cái đẹp và sự trường
    tồn, một bên là sự huỷ hoại và tàn phai.
    Câu 4 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nhận xét về mối tương
    quan giữa các hình ảnh thơ theo cột ngang và cột dọc trong bảng
    sau:
    Sáu dòng thơ đầu

    Sáu dòng thơ cuối

    Những chiếc lá khô

    Những câu thơ còn xanh
    Những bài hát còn xanh

    Tiếng sỏi trong lòng giếng cạn

    Hai giếng nước

     Trả lời:
    - Sự tương phản giữa các hình ảnh:
    Sáu dòng thơ Sáu dòng thơ cuối
    đầu

    Nhận xét

    Những chiếc lá Những câu thơ còn xanh
    khô
    Những bài hát còn xanh

    Sự tương phản: tàn phai và
    xanh tươi.

    Tiếng sỏi trong Hai giếng nước
    lòng giếng cạn

    Sự tương phản: khô cạn và
    tràn đầy.

     - Sự tương đồng giữa các hình ảnh:
    Hình ảnh

    Nhận xét

    Sáu dòng Những chiếc lá Tiếng
    sỏi Sự tương đồng: tàn úa, khô
    thơ đầu
    (khô)
    trong
    lòng cạn, mất dần sức sống.
    giếng cạn.
    Sáu dòng Những câu thơ/ Hai
    thơ cuối
    còn xanh
    nước.

    giếng Sự tương đồng: tươi mới,
    trong trẻo, tràn đầy sức sống.

    Những bài hát/
    còn xanh
    Câu 5 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nhận xét về nhạc điệu
    (thể hiện qua vần, nhịp, phối thanh, cấu trúc lặp...) của bài thơ Thời
    gian.
    Trả lời:

    - Bài thơ viết theo thể thơ tự do, gần như không có vần, nhịp thơ
    chậm rãi khiến giọng điệu bài thơ có sự giản dị, trầm lắng, dồn nén,
    hàm súc, giàu chất suy tưởng.
    Câu 6 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Đọc lại bài thơ Độc “Tiểu
    Thanh kí” (Nguyễn Du) mà bạn đã học trong Bài 7. Những điều
    trông thấy. Nêu ít nhất một điểm tương đồng và một điểm khác biệt
    trong cảm nhận về thời gian của hai tác giả Nguyễn Du và Văn Cao.
    Trả lời:
    – Điểm tương đồng: cảm nhận về sự nghiệt ngã của thời gian: Thời
    gian qua kẽ tay làm khô những chiếc lá (Thời gian); vườn hoa thành
    bãi hoang, văn chương bị đốt đỏ... (Độc “Tiểu Thanh kim),
    - Điểm khác biệt: Nguyễn Du dự cảm xót xa về sự lãng quên của
    người đời đối với những giá trị của nghệ thuật và số phận người
    nghệ sĩ (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa; Người đời ai khóc Tố Như
    chăng?), Văn Cao thể hiện niềm tin về sự trường tồn của những giá
    trị của nghệ thuật và tình yêu (Riêng những cầu thời còn xanh Riêng
    những bài hát/ còn xanh/ Và đôi mắt em như hai giếng nước).
    Câu 7 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tìm nghe một bài hát của
    Văn Cao và viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cảm xúc của
    bạn khi nghe bài hát đó.
    Trả lời:
    Tham khảo
    - Bài hát: Tiến quân ca
    - Cảm xúc khi nghe bài hát:
    Bài “Tiến quân ca” được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác trong giai đoạn
    cuộc vận động giải phóng dân tộc (1939 – 1945), đặc biệt là thời
    điểm cách mạng Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực. Khi
    nghe những lời hát đầu tiên, em cảm nhận được sự hào hùng, quyết
    tâm ngoài ra những câu hát trên còn thể hiện sức mạnh đoàn kết
    của nhân dân Việt Nam - những con người cùng chung lí tưởng cứu
    nước và chung sức phấn đấu giải phóng đất nước. Lời bài hát rộn
    ràng, hào sảng chất chứa khí thế và sự tự hào tất thảy của những

    con người Việt Nam. “Tiến quân ca” không chỉ là một bài hát có giai
    điệu tuyệt vời mà lời ca trong bài hát này cũng đầy mĩ miều, tạo nên
    một bức tranh tuyệt đẹp về một tập thể đoàn kết, vững mạnh thể
    hiện tinh thần quyết tâm không ngừng chiến đấu vì một đất nước
    Việt Nam vững bền. Khi nghe bài hát, em cảm thấy tự hào, được
    khơi gợi sức mạnh, niềm tin vào sự sống và những điều tốt đẹp
    trong tương lai. 

    Soạn bài Ét-Va Mun-Chơ (Edvard Munch) và tiếng thét Chân trời sáng tạo
    * Suy ngẫm và phản hồi:
    Nội dung chính:
    Văn bản đề cập đến những chi tiết nghệ thuật những cái thú vị và
    bất ngờ được thể hiện trong bức tranh “tiếng thét”.

    Câu 1 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Văn bản trên đề cập đến
    những chi tiết nghệ thuật quan trọng nào trong bức tranh Tiếng
    thét? Những chi tiết đó gợi cảm giác như thế nào đối với người
    xem?
    Trả lời:
    - Những chi tiết nghệ thuật quan trọng trong bức tranh Tiếng thét:
    Hình ảnh nhân vật chính, các hình thù trừu tượng xung quanh, các
    đường xoáy và màu sắc....

    => Tất cả gợi cảm giác ghê sợ, rùng rợn, lo âu.
    Câu 2 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Từ các chi tiết trên, hãy
    xác định giá trị của các yếu tố tượng trưng trong bức tranh Tiếng
    thét.
    Trả lời:
    - Giá trị của các yếu tố tượng trưng trong bức tranh: Các chi tiết
    trong bức tranh tượng trưng cho những biến cố dữ dội của cuộc
    sống, hình ảnh nhân vật tượng trưng cho sự kinh hoàng của con
    người trước những thảm họa sắp xảy ra.
    Câu 3 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Cần dựa vào những cơ
    sở nào để xác định yếu tố tượng trưng trong một tác phẩm nghệ
    thuật?
    Trả lời:
    - Để xác định yếu tố tượng trưng trong một tác phẩm nghệ thuật, ta
    cần dựa vào các chi tiết nghệ thuật (hình ảnh, từ ngữ trong văn
    chương, màu sắc, đường nét, hình ảnh trong hội hoạ...); từ đó, chỉ
    ra những triết lí sâu xa về bản chất của đời sống mà những chi tiết
    đó gợi nên.

    Soạn bài Thực hành tiếng Việt trang 65 Tập 2 - Chân trời
    sáng tạo
    Câu 1 (trang 65,66,67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra và nêu tác
    dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong những đoạn trích dưới
    đây:
    a. Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh.
    Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
    Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
    Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
    (Xuân Diệu, Nguyệt cầm)

    b. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của
    Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng
    minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên
    nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà.
    Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không
    phải từ tay pháp.
    Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các
    xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước
    Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi
    thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng Hoà.
    […]
    Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi
    năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống
    phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải
    được độc lập!
    Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam
    Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã
    thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết
    đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
    quyền tự do, độc lập ấy.
    (Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)
    c. Gió, gió thổi rào rào.
    Trăng, trăng lay chấp chới.
    Trời tròn như buồm căng.
    Tất cả lên đường mới.
    Hồn ta cảnh rộng mở
     Đôi bên gió thổi vào,
     Nghĩ những điều hớn hở
    Như trời cao, cao, cao.

    (Xuân Diệu, Gió)
    d. Rau cần, với cải bắp cho một tí rau răm vào, muối xổi, lấy ra ăn
    với thịt đông hay kho tàu, nó lạ miệng và có khi thú hơn cả dưa cải
    nữa... Nhưng ăn cháo ám mà không có rau cần thì… hỏng, y như
    thể vào một khoảng vườn mà không có hoa, đi trong mùa xuân mà
    không thấy bướm.
    (Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai)
    Trả lời:
    a.
    - Biện pháp lặp cấu trúc 1: Lặp cấu trúc trong từng dòng thơ:
    trăng thương/ trăng nhớ
    đàn buồn đàn lặng
    - Biện pháp lặp cấu trúc 2: Lặp cấu trúc hai dòng thơ:
    Trăng thương, trăng nhớ, hơi trắng ngẩn.
    Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
    = > Tác dụng: Làm cho cấu trúc câu thơ ngắt thành những nhịp
    ngắn, mô phỏng tiếng đàn đang bắt đầu tấu lên, rải từng nốt chậm
    rãi.
    b.
    - Biện pháp lặp cấu trúc 1: Lặp cấu trúc hai câu sau:
    (1) Sự thật là từ miều thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của
    Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa.
    (2) Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ
    không phải từ tay Pháp.
    - Biện pháp lặp cấu trúc 2: Lặp cấu trúc giữa các vế câu: Pháp chạy,
    Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Đây là phép lặp cấu trúc cụm chủ
    vị trong cùng một câu ghép.
    - Biện pháp lặp cấu trúc 3: Lặp cấu trúc hai câu sau:

    (1) Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm
    nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập.
    (2) Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên
    chế độ Dân chủ Cộng hoà.
    - Biện pháp lặp cấu trúc 4: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ
    của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
    phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay. Đây là phép lặp cấu
    trúc thành phần câu.
    - Biện pháp lặp cấu trúc 5: Lặp cấu trúc hai cụm chủ vị nòng cốt của
    hai câu:
    (1) ... dân tộc đó phải được tự do!
    (2) Dân tộc để phải được độc lập!
    - Biện pháp lặp cấu trúc 6: thủ thân và lực lượng tính mạng và của
    cải. Đây là phép lặp cấu trúc các bổ ngữ.
    = > Tác dụng: Tạo giọng văn đanh thép, hùng hồn, mạnh mẽ, khẳng
    định những sự thật lịch sử không thể chối cãi.
    c. Lặp cấu trúc: Gió, gió thổi rào rào/ Trăng trắng lay chấp chơi. Đây
    là phép lặp cấu trúc giữa hai dòng thơ.
    = > Tác dụng: Nhấn mạnh sự chuyển động tươi mới của mọi sự vật
    trong trời đất.
    d. Lập cấu trúc: vào một khoảng vườn mà không có hoại đi trong
    mùa xuân mà không thấy bướm.
    => Tác dụng: Nhấn mạnh ý nghĩa quyết định của rau cần đối với
    lượng của món cháo ám.
    Câu 2 (trang 67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2):
    Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
    Riêng những câu thơ
                                                       còn xanh
    Riêng những bài hát

                                                       còn xanh
                                                      Và đôi mắt em 
                                                                       như hai giếng nước
    (Văn Cao, Thời gian)
    a. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong
    đoạn thơ trên.
    b. Cho biết cách diễn đạt “những câu thơ còn xanh”, “những bài hát
    còn xanh” có gì đặc biệt.
    Trả lời:
    a. Lặp cấu trúc giữa hai dòng thơ: Riêng những câu thơ còn xanh/
    Riêng những bài hát còn xanh.
    = > Tác dụng: Nhấn mạnh sự trường tồn của những giá trị tinh thần,
    nghệ thuật.
    b. Cách diễn đạt những câu thơ còn xanh, những bài hát còn xanh:
    Hữu hình hóa những đối tượng trừu tượng như câu thơ, bài hát;
    biển câu thơ, bài hát thành những thực thể có sự sống, có sức trẻ,
    chống lại sự tàn phá của thời gian.
    * Từ đọc đến viết
    Câu hỏi (trang 67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Viết đoạn văn (khoảng
    200 chữ) tự phác hoạ nét nổi bật trong tính cách của bạn, trong
    đó có sử dụng biện pháp tu từ lặp cấu trúc.
    Trả lời:
    Đoạn văn tham khảo
    Mỗi người khi sinh ra đều mang trong mình những tính cách riêng
    biệt. Tính cách ấy phản ánh những phẩm chất, thái độ, cảm xúc và
    hành động của mỗi cá nhân khi đối diện và giải quyết một vấn đề.
    Với cá nhân em, em cho rằng tính cách của mình nổi bật bởi sự
    năng động và nhiệt huyết. Em là người rất nhiệt tình trong công việc
    và cuộc sống. Em luôn cố gắng hết sức để có thể thực hiện tốt các
    nhiệm vụ được giao và không bao giờ từ bỏ giữa chừng. Khi gặp

    khó khăn, em thường tìm các cách giải quyết và sự giúp đỡ thay vì
    từ bỏ. Đặc biệt, em là người thích khám phá và học hỏi. Em luôn
    muốn biết nhiều hơn về thế giới xung quanh mình và sẵn sàng đối
    mặt với những thử thách mới. Ngoài việc học tập của bản thân trong
    trường lớp, em thường tham gia các hoạt động, tổ chức để có thể
    học hỏi được nhiều kinh nghiệm và kiến thức mới. Điều đó giúp em
    trở thành một người tự tin và sáng tạo hơn đồng thời cũng giúp bản
    thân nhạy bén hơn trong giải quyết các vấn đề cá nhân. Em tin rằng
    những phẩm chất này sẽ giúp em vượt qua những khó khăn, thử
    thách trong cuộc sống và thuận lợi hơn cho việc đạt được ước mơ
    của bản thân.

    Soạn bài Gai - Chân trời sáng tạo
    * Suy ngẫm và phản hồi:
    Nội dung chính:
              Văn bản đề cập đến hình ảnh “bông hồng” và “gai” đồng thời
    thể hiện vẻ đẹp của bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cao là biểu
    tượng của cái đẹp tinh thần đạt được khi con người vượt qua mất
    mát, chông gai trên hành trình tìm kiếm sự hoàn thiện.

    Câu 1 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định mối quan hệ
    giữa các hình ảnh trong bốn dòng thơ đầu. Chỉ ra ý nghĩa tượng
    trưng của hình ảnh “hoa hồng” và “gai”, “hái bông” và “gai cào”.
    Trả lời:
    - Mối quan hệ giữa các hình ảnh trong bốn dòng thơ đầu: Sự đối lập
    giữa hai từ chỉ thời gian (sớm - chiều), hai hình ảnh (hoa hồng –
    gai).

    - Ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh “hoa hồng” và “gai cào”: hoa
    hồng tượng trưng cho cái đẹp, hành động hái hoa là biểu tượng của
    hành trình đi tìm cái đẹp; gai tượng trưng cho nỗi đớn đau, cái giá
    phải trả trên hành trình gian khổ đó, gai cào là sự chấp nhận cái giá
    phải trả để đến với cái đẹp.
    Câu 2 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Phân tích sự chuyển đổi
    của các hình ảnh trong bốn dòng thơ cuối.
    Trả lời:
    - Sự chuyển đổi của các hình ảnh trong bốn dòng thơ cuối: Từ gai
    cao đến sẹo lên xanh biếc, gai đơm hoa, từ bông hoa hồng có thực
    mà chủ thể trữ tình muốn hái đến bông hoa hồng trong tâm hồn nở
    ra từ vết gai cao; sự chuyển biến từ nỗi đau đớn sang sự thăng hoa,
    niềm hạnh phúc khi chạm đến một cái đẹp cao hơn, thuần khiết
    hơn. Nỗi đau khi đã vượt qua sẽ trở nên những trải nghiệm đẹp đẽ,
    làm tâm hồn con người phong phú thêm.
    Câu 3 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Sự trở lại của hình ảnh
    “hoa” ở cuối bài thơ có ý nghĩa gì?
    Trả lời:
    Dòng thơ đầu tiên và dòng thơ cuối cùng cho ta thấy ý nghĩa của
    hình ảnh “hoa trong mỗi dòng thơ, từ đó, thấy được ý nghĩa của việc
    lặp lại hình ảnh “hoa” lần thứ hai.
    - Sự trở lại của hình ảnh “hoa ở cuối bài cho thấy bản thân sự trải
    nghiệm nỗi đau sẽ mang lại những cái đẹp mới mẻ, cao quý hơn.
    Bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cao là biểu tượng của cái đẹp
    tinh thần đạt được khi con người vượt qua mất mát, chông gai trên
    hành trình tìm kiếm sự hoàn thiện.
    Câu 4 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bài thơ gợi cho bạn suy
    nghĩ gì về bản chất của quá trình sáng tạo nghệ thuật của người
    nghệ sĩ: thành quả đạt được và cái giá phải trả có thể là gì?
    Trả lời:
    - Quá trình hái hoa phải trả giá bằng những vết gai cao và những
    bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cào đó có thể hiểu là biểu tượng

    của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Hành trình sáng tạo là hành trình
    đi tìm cái đẹp vô cùng gian khổ, trong đó người nghệ sĩ phải thâm
    nhập, trải nghiệm, hoá thân để sống cùng những nỗi đau của kiếp
    người để sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị trường
    tồn.

    Soạn bài Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học
    (Bài thơ) hoặc tác phẩm nghệ thuật (Bức tranh, pho
    tượng) - Chân trời sáng tạo
    * Tri thức kiểu bài:
    - Khái niệm:
    Nghị luận về một tác phẩm văn học (bài thơ) hoặc một tác phẩm
    nghệ thuật (bức tranh, pho tượng) là kiểu bài nghị luận dùng lí lẽ,
    bằng chứng để làm rõ giá trị nội dung và một số nét đặc sắc về
    nghệ thuật của một bài thơ hoặc một bức tranh, pho tượng.
    - Yêu cầu đối với kiểu bài:
    • Về nội dung:
    + Nêu được một số nét đặc sắc về nội dung của tác phẩm (từ ngữ,
    hình ảnh, chủ đề tư tưởng, cảm hứng, thông điệp...) và nghệ thuật
    của tác phẩm (từ ngữ, hình ảnh, bố cục, thể thơ, vần, nhịp, các biện
    pháp nghệ thuật trong bài thơ; chất liệu, bố cục, màu sắc, chi tiết
    nghệ thuật... của bức tranh/ pho tượng).
    + Có những lí lẽ xác đáng, hợp lí dựa trên các bằng chứng tiêu biểu
    từ tác phẩm.
    • Về hình thức, đảm bảo các yêu cầu của kiểu bài nghị luận: lập luận
    chặt chẽ; kết hợp các thao tác nghị luận; diễn đạt mạch lạc; sử dụng
    các phương tiện liên kết hợp lí để giúp người đọc nhận ra mạch lập
    luận.
    • Bố cục đảm bảo ba phần:
    Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận (tên tác phẩm, tác giả, khái quát
    nội dung, ý nghĩa của tác phẩm hoặc nêu định hướng của bài viết).

    Thân bài: Lần lượt trình bày các luận điểm về những nét đặc sắc về
    nội dung và hình thức nghệ thuật; đưa ra lí lẽ và b...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS & THPT PHẠM HỒNG THÁI - CHƯ PĂH - GIA LAI!