Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
Bài 8 Cái tôi thế giới độc đáo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: may
Người gửi: Trần Ngọc Ngoan (trang riêng)
Ngày gửi: 03h:51' 02-10-2023
Dung lượng: 185.5 KB
Số lượt tải: 115
Nguồn: may
Người gửi: Trần Ngọc Ngoan (trang riêng)
Ngày gửi: 03h:51' 02-10-2023
Dung lượng: 185.5 KB
Số lượt tải: 115
Số lượt thích:
0 người
Bài 8: Cái tôi – Thế giới độc đáo
Soạn bài Tri thức ngữ văn trang 59 Tập 2 Chân trời sáng tạo
1. Tượng trưng: là loại hình ảnh mang tính trực quan, sinh động nhưng
hàm nghĩa biểu đạt những tư tưởng, quan niệm, khái niệm trừu tượng.
Chẳng hạn, chim bồ câu tượng trưng cho hoà bình, hoa hồng đỏ tượng
trưng cho tình yêu hoặc lá cờ tượng trưng cho quốc gia.
2. Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình: Thông thường, thơ trữ tình diễn
tả thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình thông qua những chi tiết, hình ảnh
cụ thể, gợi cảm. Tuy nhiên, một số tác phẩm thơ trữ tình còn đi sâu vào
những vấn đề triết học, thông qua những chi tiết có tính tượng trưng cao.
Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi
cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính triết lý, đánh thức suy
ngẫm của người đọc về bản chất sâu xa của con người và thế giới. Chẳng
hạn, hình ảnh tháp Bayon trong bài thơ Tháp Bayon bốn mặt (Chế Lan
Viên) tượng trưng cho thế giới tâm hồn đa diện, phức tạp của con người:
Anh là tháp Bayon bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình.
Trong nhiều trường hợp, yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình còn gắn với
sự đề cao nhạc tính của thơ (sức gợi cảm của nhịp thơ, vần, thanh điệu...)
và sự tương giao giữa các giác quan (sự hoà hợp của các ấn tượng thính
giác, thị giác, xúc giác...).
3. Hình thức và cấu tử trong thơ trữ tình
Hình thức trong thơ trữ tình là tổng hòa của thể thơ, câu thơ, lời thơ, giọng
điệu, nhịp, vẫn, hình ảnh... trong thơ trữ tình. Tất cả được lựa chọn, liên kết
để thể hiện chủ đề, tư tưởng chung của tác phẩm. Chẳng hạn, hình ảnh, từ
ngữ, giọng điệu trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân) toát lên
âm hưởng bị tráng hào hùng.
Cấu tứ là cách thức triển khai mạch cảm xúc và tổ chức hình tượng trong
tác phẩm thơ trữ tình. Chẳng hạn, trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam (Lê
Anh Xuân), cấu tứ bài thơ là sự khái quát từ tư thế hi sinh hiên ngang của
anh Giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất đến hình ảnh “dáng
đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ”.
4. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
Lặp cấu trúc là biện pháp tổ chức những vế câu hoặc những câu có cùng
một kết cấu ngữ pháp, nhằm nhấn mạnh ý tưởng và tạo sự nhịp nhàng, cân
đối cho văn bản. Ví dụ: Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi.
(Hồ Chí Minh)
Lưu ý: Chúng ta có thể bắt gặp biện pháp lặp cấu trúc trong phép đối. Đối là
cách lặp lại cấu trúc ngữ pháp có sự đối lập về từ ngữ, thanh điệu…
Soạn bài Nguyệt cầm - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 60 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy hình dung cảm
giác của bạn khi nghe tiếng đàn trong một đêm trăng.
Trả lời:
- Cảm giác buồn bã, u sầu khi chìm trong khung cảnh lặng thinh của
vạn vật.
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Tưởng tượng: Hình ảnh “mỗi giọt rơi tàn” gợi tả điều gì?
- Hình ảnh “mỗi giọt rơi tàn” gợi liên tưởng tới hình ảnh của một thứ
chất lỏng đang rơi chầm chậm rồi tắt hẳn. Hay nói cách khác nhà
thơ đã dùng dùng âm thanh để miêu tả cái hình ảnh, ánh trăng
buông xuống như những giọt lệ sầu thương.
2. Tưởng tượng: Bạn hình dung âm anh “long lanh tiếng sỏi” như
thế nào?
- Âm thanh “long lanh tiếng sỏi” là một thứ âm thanh lạ kỳ, độc đáo.
3. Suy luận: Hình ảnh “biển” và “chiếc đảo” có mối quan hệ như thế
nào?
- Hình ảnh “biển” và “chiếc đảo” vốn luôn là hai hình ảnh gắn liền,
song hành cùng với nhau.
+ “Biển”: cái mênh mông to lớn kết hợp với “chiếc đảo” – không gian
hẹp, ám chỉ tâm hồn
=> Mối quan hệ giữa biển và chiếc đảo thể hiện tâm hồn thi sĩ giao
thoa với âm nhạc và ánh trăng.
* Suy ngẫm và phản hồi
Nội dung chính:
Nguyệt cầm là một bài thơ mới, âm hưởng cổ điển và lãng mạn.
Xuân Diệu nghe đàn trên sông Hương, chạnh nhớ hận tình Trương
Chi - Mỵ Nương mà làm nên Nguyệt cầm.
Câu 1 (trang 61 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hình ảnh trăng nhập vào
dây đàn ở khổ thơ đầu tiên có gì độc đáo so với hình ảnh trăng và
đàn trong tác phẩm nghệ thuật (văn học hoặc hội hoạ, âm nhạc) mà
bạn biết?
Trả lời:
- Hình ảnh trăng nhập vào dây đàn ở khổ thơ đầu tiên đem nhiều vẻ
đẹp độc đáo, đặc sắc hơn so với hình ảnh trăng và đàn trong tác
phẩm nghệ thuật (văn học hoặc hội họa, âm nhạc) mà em biết.
+ Hình ảnh trăng nhập vào dây đàn không chỉ gợi ra sự giao hòa
của trăng- đàn mà nó còn gợi ra sự hợp nhất thành một giữa chúng.
+ Nhưng sự giao hòa tuyệt đối này gợi ra cho người đọc sự choáng
ngợp, đồng thời cảm nhận được hơi lạnh vô hình len lỏi, tác động
vào tâm trí, trong dòng cảm nhận “Trăng nhập vào đây cung nguyệt
lạnh”.
=> Đây là nét tài hoa tạo nên một Xuân Diệu khác biệt. Hiếm có thể
thấy một hình ảnh trăng và đàn ở tác phẩm nào lại hàm ý, đặc sắc
như “Nguyệt Cầm” - Xuân Diệu.
Câu 2 (trang 61,62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Kẻ bảng sau vào vở
và liệt kê vào cột [1], cột [2] một số chi tiết nghệ thuật thể hiện sự
tương giao của các giác quan trong cột [3]:
Khổ thơ
Ánh
sáng Âm thanh
Hình ảnh thể hiện sự
(trăng)
tương giao của các giác
(đàn – âm nhạc)
quan [3]
[1]
[2]
1
… giọt rơi tàn như lệ ngân
2
… bóng sáng bỗng rung
mình
3
Long lanh tiếng sỏi…
4
… ánh nhạc: biển pha lê…
Từ bảng trên, cho biết: bạn cảm nhận thế nào về sự kết hợp giữa
các cảm giác và tác dụng nghệ thuật của sự kết hợp ấy trong bài
thơ; từ đó, giải thích ý nghĩa của nhan đề Nguyệt cầm.
Trả lời:
Khổ
thơ
Ánh sáng (trăng)
Âm thanh
[1]
(đàn – âm nhạc) [2]
1
- giọt ánh sáng (giọt - giọt đàn (âm thanh … giọt rơi tàn như lệ
nước lấp lánh sáng)
vang từng tiếng)
ngân
- rơi tàn (giọt nước - rơi tàn (âm thanh
sáng rơi tan thành vang vọng và lặng
từng hạt nhỏ)
Hình ảnh thể hiện sự
tương giao của các
giác quan [3]
- ngân (bạc)
dần)
- ngân (âm vang)
2
Bóng hình sáng mờ, Âm thanh ngân rung
chuyển động.
… bóng sáng bỗng
rung mình
3
Viên sỏi trắng sáng Âm thanh những viên Long lanh tiếng sỏi…
phản chiếu ánh sáng sỏi va vào nhau trong
vắt.
4
- ánh nhạc: không - ánh nhạc: âm thanh … ánh nhạc: biển pha
gian tỏa sáng.
réo rắt.
lê…
- biển pha lê: không - biển pha lê: âm
gian trong trẻo, lạnh thanh vang vọng khắp
lẽo.
không gian.
- Nhận xét:
+ Không gian trong trẻo, vắng lặng, càng về cuối càng sáng, bao la,
lộng lẫy; âm thanh trong vắt; cảm giác lạnh lẽo rợn người; hình ảnh
nửa hư, nửa thực... Sự giao thoa cảm giác đó mang lại sự hàm súc
cho câu thơ, khuấy động tất cả các giác quan của người đọc, giúp
người đọc hình dung một thế giới nghệ thuật với nhiều cung bậc,
chiều kích khác nhau.
+ Nhan đề Nguyệt cầm: Sự kết hợp giữa nguyệt (ánh trăng - ăn
lượng thị giác) và cầm (đàn – ấn tượng thính giác), đồng thời có sự
giao thoa với ý nghĩa của từ ghép nguyệt cảm (đàn nguyệt, một loại
đàn dây cô).
Câu 3 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Các cảm giác “lạnh” (khổ
1), “rung mình” (khổ 2), “ghê như nước” (khổ 3), “rợn” (khổ 4) ... là
cảm giác của ai và toát ra từ đâu?
Trả lời:
- Cảm giác “lạnh” (khổ 1) và “ghê như nước” (khổ 3) có thể đến từ
dây đàm kim loại (cảm nhận xúc giác của người chơi đàn khi chạm
vào dây dàn) hoặc cũng có thể đến từ âm sắc trong vắt, cao vút của
tiếng đàn (cảm nhận thính giác của chủ thể trữ tình khi lắng nghe
tiếng đàn cất lên trong đêm vắng). Tiếng đàn chậm rãi, buồng từng
nốt ở khổ 1 (tạo cảm giác lạnh đột ngột) và nhanh, réo rắt ở khổ 3
(tạo ấn tượng như dòng nước chảy).
- Cảm giác “rung mình" (khổ 2) đến từ sự mờ nhòe của “bóng sáng”,
đó có thể là bóng trăng mờ ảo, huyền hoặc trong không gian đêm
khuya (cảm nhận xúc giác của bóng trăng chuyển hoá thành cảm
nhận xúc giác của chủ thể trữ tình).
- Cảm giác “rợn” (khổ 4) là cảm giác của chủ thể trữ tình khi bạn bè
xung quanh là "ánh nhạc: biển pha lễ” tràn ngập ánh sáng (cảm
nhận thị giác) và tràn ngập một dòng âm thanh trong trẻo như pha lê
với tiết tấu nhanh, hối hả (cảm nhận thính giác).
Câu 4 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chủ thể trữ tình trong bài
thơ đã thể hiện cảm xúc gì khi lắng nghe tiếng đàn? Các chi tiết nào
trong bài thơ cho thấy điều đó?
Trả lời:
- Cảm xúc của chủ thể trữ tình chuyển biển từ lạnh lẽo, u buồn (khổ
1, qua các chi tiết dây cung nguyệt lạnh, trung thương, trắng nhớ,
đàn buồn, đàn lặng) đến bởi hỏi, run rẩy khi tưởng nhớ những loài
hoa nghệ thuật trong quá khứ (khổ 2 và khổ 3, qua các chi tiết như
bóng sáng rung mình, nương tử đã chết, đàn ghê như nước, nhớ
Tâm Dương,...) và rợn ngợp, rùng mình khi cảm nhận nỗi cô đơn
muôn đời của những tài hoa nghệ thuật (khổ 4, qua các chi tiết như
chiếc đảo, rợn bốn bể, sâu âm nhạc, sao Khuê).
Câu 5 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định ý nghĩa tượng
trưng của hình ảnh người phụ nữ ở khổ thơ thứ hai, bến Tầm
Dương ở khổ thơ thứ ba và sao Khuê ở khổ thơ cuối. Chỉ ra mối liên
hệ giữa những hình ảnh này. Từ đó xác định cấu tứ của bài thơ.
Trả lời:
- Hình ảnh người phụ nữ trong khổ thứ hai, bến Tầm Dương ở khổ
thứ ba và sao Khuê ở khổ thứ tư: Đó là hình ảnh những người nghệ
sĩ tài hoa bạc mệnh trong lịch sử nghệ thuật, điểm chung giữa họ là
sự tài hoa và cuộc đời cô đơn, lẻ loi, là số phận bị xã hội lãng quên
(người con gái vô danh qua đời khi tuổi còn trẻ, người phụ nữ chơi
đàn tì bà trên bến sông Tầm Dương trong Tì bà hành của Bạch Cư
Dị thời trẻ dập dìu kẻ đưa người đón nhưng sau đó bị quên bỏ, sống
cô độc bên bên sông; sao Khuê là biểu tượng của tài hoa văn
chương nghệ thuật, ngôi sao nắm giữ vận mệnh của các bậc văn
nhân). Ý nghĩa tượng trưng: Cái đẹp của nghệ thuật và nỗi đau, nỗi
cô đơn ngàn đời của người nghệ sĩ trên hành trình sáng tạo nghệ
thuật.
- Hình tượng tổng quát kiến tạo nên cấu tứ bài thơ là sự hoà nhập
giữa tiếng đàn hiện tại và những kiếp nghệ sĩ tài hoa bạc mệnh
trong quá khứ.
Câu 6 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định cách ngắt nhịp
và phối hợp thanh điệu trong bài thơ. Từ đó, nhận xét về nhạc điệu
của bài thơ và mô tả hình dung của bạn về tiếng đàn nguyệt trong
đêm lạnh.
Trả lời:
- Thể thơ thất ngôn, từ ngữ mang màu sắc cổ điển, nhiều từ Hán
Việt và nhiều hình ảnh lấy từ văn học cổ, nhịp 4/3 cổ diễn, văn chân,
vẫn chính, sử dụng nhiều âm tiết mở (ân, inh, anh, ở). Tất cả tạo
nên âm hưởng hoài cổ, nhạc điệu âm vang cho bài thơ, giúp người
đọc hình dung tiếng đàn vang xa trong đêm trăng.
Bài tập sáng tạo (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Vẽ một bức
tranh thể hiện hình dung của bạn sau khi đọc bài thơ hoặc viết một
đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) nêu ấn tượng sâu sắc nhất của
bạn về bài thơ.
Trả lời:
Bài thơ Nguyệt Cầm là một thi phẩm đặc sắc của ông hoàng thơ
tình Xuân Diệu. Thi sĩ chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái thơ
tượng trưng Pháp, trước hết là Baudelaire. Bài này là trường hợp
thể hiện tuyệt vời quan niệm về sự tương giao giữa các giác quan
của Baudelaire (Correspondances): tiếng nhạc, ánh sáng và hơi
lạnh – thính giác, thị giác và xúc giác, ba giác quan đều bén nhọn
“tương giao” với nhau, diễn tả những rung cảm, đúng ra, những run
rẩy của “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề”. ”Nguyệt cầm” là bài thơ
Xuân Diệu viết để thể hiện những cảm xúc, tình cảm đầy chất trữ
tình, đặc biệt là những ẩn ý của cảm xúc ấy được thể hiện qua một
hình ảnh mới lạ “nguyệt cầm”. Với nhan đề của bài thơ này ta có thể
liên tưởng về sự hòa quyện của ánh trăng trong bản nhạc của người
nghệ sĩ, sự hòa quyện này không chỉ tạo nên khung cảnh tuyệt sắc
mà còn tạo ra âm thanh du dương, quyến rũ, hấp dẫn người nhìn,
người xem. Không gian được nhà thơ Xuân Diệu gợi mở ra ở đây
chính là không gian của một đêm trăng, đối tượng soi chiếu của ánh
trăng đó được gợi nhắc cụ thể ở đây, chính là “cung nguyệt”. Thể
hiện sự tiếp xúc giữa ánh trăng với cung đàn, Xuân Diệu đã thể hiện
thông qua động từ “nhập”, từ này có sức ám ảnh mạnh mẽ, vì nó
không chỉ gợi ra sự giao hòa của trăng- đàn mà nó còn gợi ra sự
hợp nhất thành một giữa chúng. Ngay câu thơ đầu tiên, nhà thơ
Xuân Diệu đã tạo cho bài thơ một âm hưởng trầm buồn, và nỗi buồn
ấy được thể hiện ngay trong câu thơ sau đó “Trăng thương, trăng
nhớ, hỡi trăng ngần”, vầng trăng trong cái nhìn của nhà thơ cũng
đâu phải là một hiện tượng của thiên nhiên mà nó như một con
người, có sự đa cảm nhất định, biết thương, biết nhớ. Tương đồng
với dòng xúc cảm của vầng trăng, cung đàn dường như cũng u uất,
lặng lẽ trong giai điệu “Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm”, và trong
cách miêu tả của nhà thơ, ta lại liên tưởng đến đàn và trăng như
một đôi tình nhân, và giữa họ là một chuyện tình buồn “Mỗi giọt rơi
tàn như lệ ngân”, “giọt rơi” ở đây có thể là ánh trăng. Hiểu như vậy
ta có thể thấy được cái độc đáo trong cảm nhận của Xuân Diệu, vì
nhà thơ đã dùng âm thanh để miêu tả cái hình ảnh, ánh trăng buông
xuống như những giọt lệ sầu thương. Nguyệt Cầm là một thi phẩm
hay mang đậm phong cách thơ Xuân Diệu. Bài thơ làm nên một
tiếng vang lớn trong nền văn học nước nhà.
Soạn bài Thời gian - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Khi hình dung về thời
gian, người ta thường nghĩ đến những từ ngữ nào?
Trả lời:
- Khi hình dung về thời gian, người ta thường nghĩ đến những từ
ngữ: chảy trôi, năm tháng, qua đi, tuổi trẻ…
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Tưởng tượng: Hãy tưởng tượng âm thanh tiếng sỏi rơi trong
lòng giếng cạn.
- Âm thanh tiếng sỏi rơi trong lòng giếng cạn: vội vã, vang vọng…
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Bài thơ “Thời gian” giãi bày tâm sự về cuộc sống, nghệ thuật và tình
yêu sau một chặng đường dài buồn vui đã trải qua.
Câu 1 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Dòng thơ đầu tiên cho
thấy nhà thơ hình dung như thế nào về thời gian và về quan hệ giữa
thời gian với con người?
Trả lời:
- Dòng thơ đầu tiên cho thấy nhà thơ hình dung thời gian như một
dòng nước trôi chảy không ngừng, con người không thể níu kéo,
không thể nắm giữ thời gian.
Câu 2 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hình ảnh chiếc lá khô và
“tiếng sỏi trong lòng giếng cạn” gợi cho bạn cảm nhận gì về thời
gian?
Trả lời:
- Hình ảnh chiếc lá khô và tiếng sỏi trong lòng giếng cạn có thể thể
hiện sự suy tàn, khô héo, mất dần sức sống. Thời gian trôi đi khiến
cho sự sống và cái đẹp cũng tàn phai.
Câu 3 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy chỉ ra:
a. Điểm tương đồng giữa các hình ảnh “những câu thơ”, “những bài
hát” và “đôi mắt em” ở sáu dòng thơ cuối.
b. Điểm khác biệt giữa các hình ảnh vừa nêu (ở sáu dòng thơ cuối)
với hình ảnh “những chiếc lá” (ở sáu dòng thơ đầu).
Trả lời:
a. Điểm tương đồng giữa các hình ảnh những câu thơ, những bài
hát và đôi mắt em ở sáu dòng thơ cuối là những hình ảnh gợi cho ta
nghĩ đến cái đẹp trường tồn của nghệ thuật và tình yêu, vì nó sống
mãi trong tâm hồn con người.
b. Điểm khác biệt giữa những hình ảnh trên với hình ảnh những
chiếc lá khô ở sáu dòng thơ đầu: một bên là cái đẹp và sự trường
tồn, một bên là sự huỷ hoại và tàn phai.
Câu 4 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nhận xét về mối tương
quan giữa các hình ảnh thơ theo cột ngang và cột dọc trong bảng
sau:
Sáu dòng thơ đầu
Sáu dòng thơ cuối
Những chiếc lá khô
Những câu thơ còn xanh
Những bài hát còn xanh
Tiếng sỏi trong lòng giếng cạn
Hai giếng nước
Trả lời:
- Sự tương phản giữa các hình ảnh:
Sáu dòng thơ Sáu dòng thơ cuối
đầu
Nhận xét
Những chiếc lá Những câu thơ còn xanh
khô
Những bài hát còn xanh
Sự tương phản: tàn phai và
xanh tươi.
Tiếng sỏi trong Hai giếng nước
lòng giếng cạn
Sự tương phản: khô cạn và
tràn đầy.
- Sự tương đồng giữa các hình ảnh:
Hình ảnh
Nhận xét
Sáu dòng Những chiếc lá Tiếng
sỏi Sự tương đồng: tàn úa, khô
thơ đầu
(khô)
trong
lòng cạn, mất dần sức sống.
giếng cạn.
Sáu dòng Những câu thơ/ Hai
thơ cuối
còn xanh
nước.
giếng Sự tương đồng: tươi mới,
trong trẻo, tràn đầy sức sống.
Những bài hát/
còn xanh
Câu 5 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nhận xét về nhạc điệu
(thể hiện qua vần, nhịp, phối thanh, cấu trúc lặp...) của bài thơ Thời
gian.
Trả lời:
- Bài thơ viết theo thể thơ tự do, gần như không có vần, nhịp thơ
chậm rãi khiến giọng điệu bài thơ có sự giản dị, trầm lắng, dồn nén,
hàm súc, giàu chất suy tưởng.
Câu 6 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Đọc lại bài thơ Độc “Tiểu
Thanh kí” (Nguyễn Du) mà bạn đã học trong Bài 7. Những điều
trông thấy. Nêu ít nhất một điểm tương đồng và một điểm khác biệt
trong cảm nhận về thời gian của hai tác giả Nguyễn Du và Văn Cao.
Trả lời:
– Điểm tương đồng: cảm nhận về sự nghiệt ngã của thời gian: Thời
gian qua kẽ tay làm khô những chiếc lá (Thời gian); vườn hoa thành
bãi hoang, văn chương bị đốt đỏ... (Độc “Tiểu Thanh kim),
- Điểm khác biệt: Nguyễn Du dự cảm xót xa về sự lãng quên của
người đời đối với những giá trị của nghệ thuật và số phận người
nghệ sĩ (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa; Người đời ai khóc Tố Như
chăng?), Văn Cao thể hiện niềm tin về sự trường tồn của những giá
trị của nghệ thuật và tình yêu (Riêng những cầu thời còn xanh Riêng
những bài hát/ còn xanh/ Và đôi mắt em như hai giếng nước).
Câu 7 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tìm nghe một bài hát của
Văn Cao và viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cảm xúc của
bạn khi nghe bài hát đó.
Trả lời:
Tham khảo
- Bài hát: Tiến quân ca
- Cảm xúc khi nghe bài hát:
Bài “Tiến quân ca” được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác trong giai đoạn
cuộc vận động giải phóng dân tộc (1939 – 1945), đặc biệt là thời
điểm cách mạng Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực. Khi
nghe những lời hát đầu tiên, em cảm nhận được sự hào hùng, quyết
tâm ngoài ra những câu hát trên còn thể hiện sức mạnh đoàn kết
của nhân dân Việt Nam - những con người cùng chung lí tưởng cứu
nước và chung sức phấn đấu giải phóng đất nước. Lời bài hát rộn
ràng, hào sảng chất chứa khí thế và sự tự hào tất thảy của những
con người Việt Nam. “Tiến quân ca” không chỉ là một bài hát có giai
điệu tuyệt vời mà lời ca trong bài hát này cũng đầy mĩ miều, tạo nên
một bức tranh tuyệt đẹp về một tập thể đoàn kết, vững mạnh thể
hiện tinh thần quyết tâm không ngừng chiến đấu vì một đất nước
Việt Nam vững bền. Khi nghe bài hát, em cảm thấy tự hào, được
khơi gợi sức mạnh, niềm tin vào sự sống và những điều tốt đẹp
trong tương lai.
Soạn bài Ét-Va Mun-Chơ (Edvard Munch) và tiếng thét Chân trời sáng tạo
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Văn bản đề cập đến những chi tiết nghệ thuật những cái thú vị và
bất ngờ được thể hiện trong bức tranh “tiếng thét”.
Câu 1 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Văn bản trên đề cập đến
những chi tiết nghệ thuật quan trọng nào trong bức tranh Tiếng
thét? Những chi tiết đó gợi cảm giác như thế nào đối với người
xem?
Trả lời:
- Những chi tiết nghệ thuật quan trọng trong bức tranh Tiếng thét:
Hình ảnh nhân vật chính, các hình thù trừu tượng xung quanh, các
đường xoáy và màu sắc....
=> Tất cả gợi cảm giác ghê sợ, rùng rợn, lo âu.
Câu 2 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Từ các chi tiết trên, hãy
xác định giá trị của các yếu tố tượng trưng trong bức tranh Tiếng
thét.
Trả lời:
- Giá trị của các yếu tố tượng trưng trong bức tranh: Các chi tiết
trong bức tranh tượng trưng cho những biến cố dữ dội của cuộc
sống, hình ảnh nhân vật tượng trưng cho sự kinh hoàng của con
người trước những thảm họa sắp xảy ra.
Câu 3 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Cần dựa vào những cơ
sở nào để xác định yếu tố tượng trưng trong một tác phẩm nghệ
thuật?
Trả lời:
- Để xác định yếu tố tượng trưng trong một tác phẩm nghệ thuật, ta
cần dựa vào các chi tiết nghệ thuật (hình ảnh, từ ngữ trong văn
chương, màu sắc, đường nét, hình ảnh trong hội hoạ...); từ đó, chỉ
ra những triết lí sâu xa về bản chất của đời sống mà những chi tiết
đó gợi nên.
Soạn bài Thực hành tiếng Việt trang 65 Tập 2 - Chân trời
sáng tạo
Câu 1 (trang 65,66,67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra và nêu tác
dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong những đoạn trích dưới
đây:
a. Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh.
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
(Xuân Diệu, Nguyệt cầm)
b. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của
Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng
minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không
phải từ tay pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các
xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước
Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi
thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng Hoà.
[…]
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi
năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống
phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải
được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã
thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết
đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do, độc lập ấy.
(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)
c. Gió, gió thổi rào rào.
Trăng, trăng lay chấp chới.
Trời tròn như buồm căng.
Tất cả lên đường mới.
Hồn ta cảnh rộng mở
Đôi bên gió thổi vào,
Nghĩ những điều hớn hở
Như trời cao, cao, cao.
(Xuân Diệu, Gió)
d. Rau cần, với cải bắp cho một tí rau răm vào, muối xổi, lấy ra ăn
với thịt đông hay kho tàu, nó lạ miệng và có khi thú hơn cả dưa cải
nữa... Nhưng ăn cháo ám mà không có rau cần thì… hỏng, y như
thể vào một khoảng vườn mà không có hoa, đi trong mùa xuân mà
không thấy bướm.
(Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai)
Trả lời:
a.
- Biện pháp lặp cấu trúc 1: Lặp cấu trúc trong từng dòng thơ:
trăng thương/ trăng nhớ
đàn buồn đàn lặng
- Biện pháp lặp cấu trúc 2: Lặp cấu trúc hai dòng thơ:
Trăng thương, trăng nhớ, hơi trắng ngẩn.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
= > Tác dụng: Làm cho cấu trúc câu thơ ngắt thành những nhịp
ngắn, mô phỏng tiếng đàn đang bắt đầu tấu lên, rải từng nốt chậm
rãi.
b.
- Biện pháp lặp cấu trúc 1: Lặp cấu trúc hai câu sau:
(1) Sự thật là từ miều thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của
Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa.
(2) Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ
không phải từ tay Pháp.
- Biện pháp lặp cấu trúc 2: Lặp cấu trúc giữa các vế câu: Pháp chạy,
Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Đây là phép lặp cấu trúc cụm chủ
vị trong cùng một câu ghép.
- Biện pháp lặp cấu trúc 3: Lặp cấu trúc hai câu sau:
(1) Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm
nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập.
(2) Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên
chế độ Dân chủ Cộng hoà.
- Biện pháp lặp cấu trúc 4: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ
của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay. Đây là phép lặp cấu
trúc thành phần câu.
- Biện pháp lặp cấu trúc 5: Lặp cấu trúc hai cụm chủ vị nòng cốt của
hai câu:
(1) ... dân tộc đó phải được tự do!
(2) Dân tộc để phải được độc lập!
- Biện pháp lặp cấu trúc 6: thủ thân và lực lượng tính mạng và của
cải. Đây là phép lặp cấu trúc các bổ ngữ.
= > Tác dụng: Tạo giọng văn đanh thép, hùng hồn, mạnh mẽ, khẳng
định những sự thật lịch sử không thể chối cãi.
c. Lặp cấu trúc: Gió, gió thổi rào rào/ Trăng trắng lay chấp chơi. Đây
là phép lặp cấu trúc giữa hai dòng thơ.
= > Tác dụng: Nhấn mạnh sự chuyển động tươi mới của mọi sự vật
trong trời đất.
d. Lập cấu trúc: vào một khoảng vườn mà không có hoại đi trong
mùa xuân mà không thấy bướm.
=> Tác dụng: Nhấn mạnh ý nghĩa quyết định của rau cần đối với
lượng của món cháo ám.
Câu 2 (trang 67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2):
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
Riêng những câu thơ
còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước
(Văn Cao, Thời gian)
a. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong
đoạn thơ trên.
b. Cho biết cách diễn đạt “những câu thơ còn xanh”, “những bài hát
còn xanh” có gì đặc biệt.
Trả lời:
a. Lặp cấu trúc giữa hai dòng thơ: Riêng những câu thơ còn xanh/
Riêng những bài hát còn xanh.
= > Tác dụng: Nhấn mạnh sự trường tồn của những giá trị tinh thần,
nghệ thuật.
b. Cách diễn đạt những câu thơ còn xanh, những bài hát còn xanh:
Hữu hình hóa những đối tượng trừu tượng như câu thơ, bài hát;
biển câu thơ, bài hát thành những thực thể có sự sống, có sức trẻ,
chống lại sự tàn phá của thời gian.
* Từ đọc đến viết
Câu hỏi (trang 67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Viết đoạn văn (khoảng
200 chữ) tự phác hoạ nét nổi bật trong tính cách của bạn, trong
đó có sử dụng biện pháp tu từ lặp cấu trúc.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo
Mỗi người khi sinh ra đều mang trong mình những tính cách riêng
biệt. Tính cách ấy phản ánh những phẩm chất, thái độ, cảm xúc và
hành động của mỗi cá nhân khi đối diện và giải quyết một vấn đề.
Với cá nhân em, em cho rằng tính cách của mình nổi bật bởi sự
năng động và nhiệt huyết. Em là người rất nhiệt tình trong công việc
và cuộc sống. Em luôn cố gắng hết sức để có thể thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao và không bao giờ từ bỏ giữa chừng. Khi gặp
khó khăn, em thường tìm các cách giải quyết và sự giúp đỡ thay vì
từ bỏ. Đặc biệt, em là người thích khám phá và học hỏi. Em luôn
muốn biết nhiều hơn về thế giới xung quanh mình và sẵn sàng đối
mặt với những thử thách mới. Ngoài việc học tập của bản thân trong
trường lớp, em thường tham gia các hoạt động, tổ chức để có thể
học hỏi được nhiều kinh nghiệm và kiến thức mới. Điều đó giúp em
trở thành một người tự tin và sáng tạo hơn đồng thời cũng giúp bản
thân nhạy bén hơn trong giải quyết các vấn đề cá nhân. Em tin rằng
những phẩm chất này sẽ giúp em vượt qua những khó khăn, thử
thách trong cuộc sống và thuận lợi hơn cho việc đạt được ước mơ
của bản thân.
Soạn bài Gai - Chân trời sáng tạo
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Văn bản đề cập đến hình ảnh “bông hồng” và “gai” đồng thời
thể hiện vẻ đẹp của bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cao là biểu
tượng của cái đẹp tinh thần đạt được khi con người vượt qua mất
mát, chông gai trên hành trình tìm kiếm sự hoàn thiện.
Câu 1 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định mối quan hệ
giữa các hình ảnh trong bốn dòng thơ đầu. Chỉ ra ý nghĩa tượng
trưng của hình ảnh “hoa hồng” và “gai”, “hái bông” và “gai cào”.
Trả lời:
- Mối quan hệ giữa các hình ảnh trong bốn dòng thơ đầu: Sự đối lập
giữa hai từ chỉ thời gian (sớm - chiều), hai hình ảnh (hoa hồng –
gai).
- Ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh “hoa hồng” và “gai cào”: hoa
hồng tượng trưng cho cái đẹp, hành động hái hoa là biểu tượng của
hành trình đi tìm cái đẹp; gai tượng trưng cho nỗi đớn đau, cái giá
phải trả trên hành trình gian khổ đó, gai cào là sự chấp nhận cái giá
phải trả để đến với cái đẹp.
Câu 2 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Phân tích sự chuyển đổi
của các hình ảnh trong bốn dòng thơ cuối.
Trả lời:
- Sự chuyển đổi của các hình ảnh trong bốn dòng thơ cuối: Từ gai
cao đến sẹo lên xanh biếc, gai đơm hoa, từ bông hoa hồng có thực
mà chủ thể trữ tình muốn hái đến bông hoa hồng trong tâm hồn nở
ra từ vết gai cao; sự chuyển biến từ nỗi đau đớn sang sự thăng hoa,
niềm hạnh phúc khi chạm đến một cái đẹp cao hơn, thuần khiết
hơn. Nỗi đau khi đã vượt qua sẽ trở nên những trải nghiệm đẹp đẽ,
làm tâm hồn con người phong phú thêm.
Câu 3 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Sự trở lại của hình ảnh
“hoa” ở cuối bài thơ có ý nghĩa gì?
Trả lời:
Dòng thơ đầu tiên và dòng thơ cuối cùng cho ta thấy ý nghĩa của
hình ảnh “hoa trong mỗi dòng thơ, từ đó, thấy được ý nghĩa của việc
lặp lại hình ảnh “hoa” lần thứ hai.
- Sự trở lại của hình ảnh “hoa ở cuối bài cho thấy bản thân sự trải
nghiệm nỗi đau sẽ mang lại những cái đẹp mới mẻ, cao quý hơn.
Bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cao là biểu tượng của cái đẹp
tinh thần đạt được khi con người vượt qua mất mát, chông gai trên
hành trình tìm kiếm sự hoàn thiện.
Câu 4 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bài thơ gợi cho bạn suy
nghĩ gì về bản chất của quá trình sáng tạo nghệ thuật của người
nghệ sĩ: thành quả đạt được và cái giá phải trả có thể là gì?
Trả lời:
- Quá trình hái hoa phải trả giá bằng những vết gai cao và những
bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cào đó có thể hiểu là biểu tượng
của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Hành trình sáng tạo là hành trình
đi tìm cái đẹp vô cùng gian khổ, trong đó người nghệ sĩ phải thâm
nhập, trải nghiệm, hoá thân để sống cùng những nỗi đau của kiếp
người để sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị trường
tồn.
Soạn bài Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học
(Bài thơ) hoặc tác phẩm nghệ thuật (Bức tranh, pho
tượng) - Chân trời sáng tạo
* Tri thức kiểu bài:
- Khái niệm:
Nghị luận về một tác phẩm văn học (bài thơ) hoặc một tác phẩm
nghệ thuật (bức tranh, pho tượng) là kiểu bài nghị luận dùng lí lẽ,
bằng chứng để làm rõ giá trị nội dung và một số nét đặc sắc về
nghệ thuật của một bài thơ hoặc một bức tranh, pho tượng.
- Yêu cầu đối với kiểu bài:
• Về nội dung:
+ Nêu được một số nét đặc sắc về nội dung của tác phẩm (từ ngữ,
hình ảnh, chủ đề tư tưởng, cảm hứng, thông điệp...) và nghệ thuật
của tác phẩm (từ ngữ, hình ảnh, bố cục, thể thơ, vần, nhịp, các biện
pháp nghệ thuật trong bài thơ; chất liệu, bố cục, màu sắc, chi tiết
nghệ thuật... của bức tranh/ pho tượng).
+ Có những lí lẽ xác đáng, hợp lí dựa trên các bằng chứng tiêu biểu
từ tác phẩm.
• Về hình thức, đảm bảo các yêu cầu của kiểu bài nghị luận: lập luận
chặt chẽ; kết hợp các thao tác nghị luận; diễn đạt mạch lạc; sử dụng
các phương tiện liên kết hợp lí để giúp người đọc nhận ra mạch lập
luận.
• Bố cục đảm bảo ba phần:
Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận (tên tác phẩm, tác giả, khái quát
nội dung, ý nghĩa của tác phẩm hoặc nêu định hướng của bài viết).
Thân bài: Lần lượt trình bày các luận điểm về những nét đặc sắc về
nội dung và hình thức nghệ thuật; đưa ra lí lẽ và b...
Soạn bài Tri thức ngữ văn trang 59 Tập 2 Chân trời sáng tạo
1. Tượng trưng: là loại hình ảnh mang tính trực quan, sinh động nhưng
hàm nghĩa biểu đạt những tư tưởng, quan niệm, khái niệm trừu tượng.
Chẳng hạn, chim bồ câu tượng trưng cho hoà bình, hoa hồng đỏ tượng
trưng cho tình yêu hoặc lá cờ tượng trưng cho quốc gia.
2. Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình: Thông thường, thơ trữ tình diễn
tả thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình thông qua những chi tiết, hình ảnh
cụ thể, gợi cảm. Tuy nhiên, một số tác phẩm thơ trữ tình còn đi sâu vào
những vấn đề triết học, thông qua những chi tiết có tính tượng trưng cao.
Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi
cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính triết lý, đánh thức suy
ngẫm của người đọc về bản chất sâu xa của con người và thế giới. Chẳng
hạn, hình ảnh tháp Bayon trong bài thơ Tháp Bayon bốn mặt (Chế Lan
Viên) tượng trưng cho thế giới tâm hồn đa diện, phức tạp của con người:
Anh là tháp Bayon bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình.
Trong nhiều trường hợp, yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình còn gắn với
sự đề cao nhạc tính của thơ (sức gợi cảm của nhịp thơ, vần, thanh điệu...)
và sự tương giao giữa các giác quan (sự hoà hợp của các ấn tượng thính
giác, thị giác, xúc giác...).
3. Hình thức và cấu tử trong thơ trữ tình
Hình thức trong thơ trữ tình là tổng hòa của thể thơ, câu thơ, lời thơ, giọng
điệu, nhịp, vẫn, hình ảnh... trong thơ trữ tình. Tất cả được lựa chọn, liên kết
để thể hiện chủ đề, tư tưởng chung của tác phẩm. Chẳng hạn, hình ảnh, từ
ngữ, giọng điệu trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân) toát lên
âm hưởng bị tráng hào hùng.
Cấu tứ là cách thức triển khai mạch cảm xúc và tổ chức hình tượng trong
tác phẩm thơ trữ tình. Chẳng hạn, trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam (Lê
Anh Xuân), cấu tứ bài thơ là sự khái quát từ tư thế hi sinh hiên ngang của
anh Giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất đến hình ảnh “dáng
đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ”.
4. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
Lặp cấu trúc là biện pháp tổ chức những vế câu hoặc những câu có cùng
một kết cấu ngữ pháp, nhằm nhấn mạnh ý tưởng và tạo sự nhịp nhàng, cân
đối cho văn bản. Ví dụ: Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi.
(Hồ Chí Minh)
Lưu ý: Chúng ta có thể bắt gặp biện pháp lặp cấu trúc trong phép đối. Đối là
cách lặp lại cấu trúc ngữ pháp có sự đối lập về từ ngữ, thanh điệu…
Soạn bài Nguyệt cầm - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 60 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy hình dung cảm
giác của bạn khi nghe tiếng đàn trong một đêm trăng.
Trả lời:
- Cảm giác buồn bã, u sầu khi chìm trong khung cảnh lặng thinh của
vạn vật.
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Tưởng tượng: Hình ảnh “mỗi giọt rơi tàn” gợi tả điều gì?
- Hình ảnh “mỗi giọt rơi tàn” gợi liên tưởng tới hình ảnh của một thứ
chất lỏng đang rơi chầm chậm rồi tắt hẳn. Hay nói cách khác nhà
thơ đã dùng dùng âm thanh để miêu tả cái hình ảnh, ánh trăng
buông xuống như những giọt lệ sầu thương.
2. Tưởng tượng: Bạn hình dung âm anh “long lanh tiếng sỏi” như
thế nào?
- Âm thanh “long lanh tiếng sỏi” là một thứ âm thanh lạ kỳ, độc đáo.
3. Suy luận: Hình ảnh “biển” và “chiếc đảo” có mối quan hệ như thế
nào?
- Hình ảnh “biển” và “chiếc đảo” vốn luôn là hai hình ảnh gắn liền,
song hành cùng với nhau.
+ “Biển”: cái mênh mông to lớn kết hợp với “chiếc đảo” – không gian
hẹp, ám chỉ tâm hồn
=> Mối quan hệ giữa biển và chiếc đảo thể hiện tâm hồn thi sĩ giao
thoa với âm nhạc và ánh trăng.
* Suy ngẫm và phản hồi
Nội dung chính:
Nguyệt cầm là một bài thơ mới, âm hưởng cổ điển và lãng mạn.
Xuân Diệu nghe đàn trên sông Hương, chạnh nhớ hận tình Trương
Chi - Mỵ Nương mà làm nên Nguyệt cầm.
Câu 1 (trang 61 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hình ảnh trăng nhập vào
dây đàn ở khổ thơ đầu tiên có gì độc đáo so với hình ảnh trăng và
đàn trong tác phẩm nghệ thuật (văn học hoặc hội hoạ, âm nhạc) mà
bạn biết?
Trả lời:
- Hình ảnh trăng nhập vào dây đàn ở khổ thơ đầu tiên đem nhiều vẻ
đẹp độc đáo, đặc sắc hơn so với hình ảnh trăng và đàn trong tác
phẩm nghệ thuật (văn học hoặc hội họa, âm nhạc) mà em biết.
+ Hình ảnh trăng nhập vào dây đàn không chỉ gợi ra sự giao hòa
của trăng- đàn mà nó còn gợi ra sự hợp nhất thành một giữa chúng.
+ Nhưng sự giao hòa tuyệt đối này gợi ra cho người đọc sự choáng
ngợp, đồng thời cảm nhận được hơi lạnh vô hình len lỏi, tác động
vào tâm trí, trong dòng cảm nhận “Trăng nhập vào đây cung nguyệt
lạnh”.
=> Đây là nét tài hoa tạo nên một Xuân Diệu khác biệt. Hiếm có thể
thấy một hình ảnh trăng và đàn ở tác phẩm nào lại hàm ý, đặc sắc
như “Nguyệt Cầm” - Xuân Diệu.
Câu 2 (trang 61,62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Kẻ bảng sau vào vở
và liệt kê vào cột [1], cột [2] một số chi tiết nghệ thuật thể hiện sự
tương giao của các giác quan trong cột [3]:
Khổ thơ
Ánh
sáng Âm thanh
Hình ảnh thể hiện sự
(trăng)
tương giao của các giác
(đàn – âm nhạc)
quan [3]
[1]
[2]
1
… giọt rơi tàn như lệ ngân
2
… bóng sáng bỗng rung
mình
3
Long lanh tiếng sỏi…
4
… ánh nhạc: biển pha lê…
Từ bảng trên, cho biết: bạn cảm nhận thế nào về sự kết hợp giữa
các cảm giác và tác dụng nghệ thuật của sự kết hợp ấy trong bài
thơ; từ đó, giải thích ý nghĩa của nhan đề Nguyệt cầm.
Trả lời:
Khổ
thơ
Ánh sáng (trăng)
Âm thanh
[1]
(đàn – âm nhạc) [2]
1
- giọt ánh sáng (giọt - giọt đàn (âm thanh … giọt rơi tàn như lệ
nước lấp lánh sáng)
vang từng tiếng)
ngân
- rơi tàn (giọt nước - rơi tàn (âm thanh
sáng rơi tan thành vang vọng và lặng
từng hạt nhỏ)
Hình ảnh thể hiện sự
tương giao của các
giác quan [3]
- ngân (bạc)
dần)
- ngân (âm vang)
2
Bóng hình sáng mờ, Âm thanh ngân rung
chuyển động.
… bóng sáng bỗng
rung mình
3
Viên sỏi trắng sáng Âm thanh những viên Long lanh tiếng sỏi…
phản chiếu ánh sáng sỏi va vào nhau trong
vắt.
4
- ánh nhạc: không - ánh nhạc: âm thanh … ánh nhạc: biển pha
gian tỏa sáng.
réo rắt.
lê…
- biển pha lê: không - biển pha lê: âm
gian trong trẻo, lạnh thanh vang vọng khắp
lẽo.
không gian.
- Nhận xét:
+ Không gian trong trẻo, vắng lặng, càng về cuối càng sáng, bao la,
lộng lẫy; âm thanh trong vắt; cảm giác lạnh lẽo rợn người; hình ảnh
nửa hư, nửa thực... Sự giao thoa cảm giác đó mang lại sự hàm súc
cho câu thơ, khuấy động tất cả các giác quan của người đọc, giúp
người đọc hình dung một thế giới nghệ thuật với nhiều cung bậc,
chiều kích khác nhau.
+ Nhan đề Nguyệt cầm: Sự kết hợp giữa nguyệt (ánh trăng - ăn
lượng thị giác) và cầm (đàn – ấn tượng thính giác), đồng thời có sự
giao thoa với ý nghĩa của từ ghép nguyệt cảm (đàn nguyệt, một loại
đàn dây cô).
Câu 3 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Các cảm giác “lạnh” (khổ
1), “rung mình” (khổ 2), “ghê như nước” (khổ 3), “rợn” (khổ 4) ... là
cảm giác của ai và toát ra từ đâu?
Trả lời:
- Cảm giác “lạnh” (khổ 1) và “ghê như nước” (khổ 3) có thể đến từ
dây đàm kim loại (cảm nhận xúc giác của người chơi đàn khi chạm
vào dây dàn) hoặc cũng có thể đến từ âm sắc trong vắt, cao vút của
tiếng đàn (cảm nhận thính giác của chủ thể trữ tình khi lắng nghe
tiếng đàn cất lên trong đêm vắng). Tiếng đàn chậm rãi, buồng từng
nốt ở khổ 1 (tạo cảm giác lạnh đột ngột) và nhanh, réo rắt ở khổ 3
(tạo ấn tượng như dòng nước chảy).
- Cảm giác “rung mình" (khổ 2) đến từ sự mờ nhòe của “bóng sáng”,
đó có thể là bóng trăng mờ ảo, huyền hoặc trong không gian đêm
khuya (cảm nhận xúc giác của bóng trăng chuyển hoá thành cảm
nhận xúc giác của chủ thể trữ tình).
- Cảm giác “rợn” (khổ 4) là cảm giác của chủ thể trữ tình khi bạn bè
xung quanh là "ánh nhạc: biển pha lễ” tràn ngập ánh sáng (cảm
nhận thị giác) và tràn ngập một dòng âm thanh trong trẻo như pha lê
với tiết tấu nhanh, hối hả (cảm nhận thính giác).
Câu 4 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chủ thể trữ tình trong bài
thơ đã thể hiện cảm xúc gì khi lắng nghe tiếng đàn? Các chi tiết nào
trong bài thơ cho thấy điều đó?
Trả lời:
- Cảm xúc của chủ thể trữ tình chuyển biển từ lạnh lẽo, u buồn (khổ
1, qua các chi tiết dây cung nguyệt lạnh, trung thương, trắng nhớ,
đàn buồn, đàn lặng) đến bởi hỏi, run rẩy khi tưởng nhớ những loài
hoa nghệ thuật trong quá khứ (khổ 2 và khổ 3, qua các chi tiết như
bóng sáng rung mình, nương tử đã chết, đàn ghê như nước, nhớ
Tâm Dương,...) và rợn ngợp, rùng mình khi cảm nhận nỗi cô đơn
muôn đời của những tài hoa nghệ thuật (khổ 4, qua các chi tiết như
chiếc đảo, rợn bốn bể, sâu âm nhạc, sao Khuê).
Câu 5 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định ý nghĩa tượng
trưng của hình ảnh người phụ nữ ở khổ thơ thứ hai, bến Tầm
Dương ở khổ thơ thứ ba và sao Khuê ở khổ thơ cuối. Chỉ ra mối liên
hệ giữa những hình ảnh này. Từ đó xác định cấu tứ của bài thơ.
Trả lời:
- Hình ảnh người phụ nữ trong khổ thứ hai, bến Tầm Dương ở khổ
thứ ba và sao Khuê ở khổ thứ tư: Đó là hình ảnh những người nghệ
sĩ tài hoa bạc mệnh trong lịch sử nghệ thuật, điểm chung giữa họ là
sự tài hoa và cuộc đời cô đơn, lẻ loi, là số phận bị xã hội lãng quên
(người con gái vô danh qua đời khi tuổi còn trẻ, người phụ nữ chơi
đàn tì bà trên bến sông Tầm Dương trong Tì bà hành của Bạch Cư
Dị thời trẻ dập dìu kẻ đưa người đón nhưng sau đó bị quên bỏ, sống
cô độc bên bên sông; sao Khuê là biểu tượng của tài hoa văn
chương nghệ thuật, ngôi sao nắm giữ vận mệnh của các bậc văn
nhân). Ý nghĩa tượng trưng: Cái đẹp của nghệ thuật và nỗi đau, nỗi
cô đơn ngàn đời của người nghệ sĩ trên hành trình sáng tạo nghệ
thuật.
- Hình tượng tổng quát kiến tạo nên cấu tứ bài thơ là sự hoà nhập
giữa tiếng đàn hiện tại và những kiếp nghệ sĩ tài hoa bạc mệnh
trong quá khứ.
Câu 6 (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định cách ngắt nhịp
và phối hợp thanh điệu trong bài thơ. Từ đó, nhận xét về nhạc điệu
của bài thơ và mô tả hình dung của bạn về tiếng đàn nguyệt trong
đêm lạnh.
Trả lời:
- Thể thơ thất ngôn, từ ngữ mang màu sắc cổ điển, nhiều từ Hán
Việt và nhiều hình ảnh lấy từ văn học cổ, nhịp 4/3 cổ diễn, văn chân,
vẫn chính, sử dụng nhiều âm tiết mở (ân, inh, anh, ở). Tất cả tạo
nên âm hưởng hoài cổ, nhạc điệu âm vang cho bài thơ, giúp người
đọc hình dung tiếng đàn vang xa trong đêm trăng.
Bài tập sáng tạo (trang 62 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Vẽ một bức
tranh thể hiện hình dung của bạn sau khi đọc bài thơ hoặc viết một
đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) nêu ấn tượng sâu sắc nhất của
bạn về bài thơ.
Trả lời:
Bài thơ Nguyệt Cầm là một thi phẩm đặc sắc của ông hoàng thơ
tình Xuân Diệu. Thi sĩ chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái thơ
tượng trưng Pháp, trước hết là Baudelaire. Bài này là trường hợp
thể hiện tuyệt vời quan niệm về sự tương giao giữa các giác quan
của Baudelaire (Correspondances): tiếng nhạc, ánh sáng và hơi
lạnh – thính giác, thị giác và xúc giác, ba giác quan đều bén nhọn
“tương giao” với nhau, diễn tả những rung cảm, đúng ra, những run
rẩy của “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề”. ”Nguyệt cầm” là bài thơ
Xuân Diệu viết để thể hiện những cảm xúc, tình cảm đầy chất trữ
tình, đặc biệt là những ẩn ý của cảm xúc ấy được thể hiện qua một
hình ảnh mới lạ “nguyệt cầm”. Với nhan đề của bài thơ này ta có thể
liên tưởng về sự hòa quyện của ánh trăng trong bản nhạc của người
nghệ sĩ, sự hòa quyện này không chỉ tạo nên khung cảnh tuyệt sắc
mà còn tạo ra âm thanh du dương, quyến rũ, hấp dẫn người nhìn,
người xem. Không gian được nhà thơ Xuân Diệu gợi mở ra ở đây
chính là không gian của một đêm trăng, đối tượng soi chiếu của ánh
trăng đó được gợi nhắc cụ thể ở đây, chính là “cung nguyệt”. Thể
hiện sự tiếp xúc giữa ánh trăng với cung đàn, Xuân Diệu đã thể hiện
thông qua động từ “nhập”, từ này có sức ám ảnh mạnh mẽ, vì nó
không chỉ gợi ra sự giao hòa của trăng- đàn mà nó còn gợi ra sự
hợp nhất thành một giữa chúng. Ngay câu thơ đầu tiên, nhà thơ
Xuân Diệu đã tạo cho bài thơ một âm hưởng trầm buồn, và nỗi buồn
ấy được thể hiện ngay trong câu thơ sau đó “Trăng thương, trăng
nhớ, hỡi trăng ngần”, vầng trăng trong cái nhìn của nhà thơ cũng
đâu phải là một hiện tượng của thiên nhiên mà nó như một con
người, có sự đa cảm nhất định, biết thương, biết nhớ. Tương đồng
với dòng xúc cảm của vầng trăng, cung đàn dường như cũng u uất,
lặng lẽ trong giai điệu “Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm”, và trong
cách miêu tả của nhà thơ, ta lại liên tưởng đến đàn và trăng như
một đôi tình nhân, và giữa họ là một chuyện tình buồn “Mỗi giọt rơi
tàn như lệ ngân”, “giọt rơi” ở đây có thể là ánh trăng. Hiểu như vậy
ta có thể thấy được cái độc đáo trong cảm nhận của Xuân Diệu, vì
nhà thơ đã dùng âm thanh để miêu tả cái hình ảnh, ánh trăng buông
xuống như những giọt lệ sầu thương. Nguyệt Cầm là một thi phẩm
hay mang đậm phong cách thơ Xuân Diệu. Bài thơ làm nên một
tiếng vang lớn trong nền văn học nước nhà.
Soạn bài Thời gian - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Khi hình dung về thời
gian, người ta thường nghĩ đến những từ ngữ nào?
Trả lời:
- Khi hình dung về thời gian, người ta thường nghĩ đến những từ
ngữ: chảy trôi, năm tháng, qua đi, tuổi trẻ…
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Tưởng tượng: Hãy tưởng tượng âm thanh tiếng sỏi rơi trong
lòng giếng cạn.
- Âm thanh tiếng sỏi rơi trong lòng giếng cạn: vội vã, vang vọng…
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Bài thơ “Thời gian” giãi bày tâm sự về cuộc sống, nghệ thuật và tình
yêu sau một chặng đường dài buồn vui đã trải qua.
Câu 1 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Dòng thơ đầu tiên cho
thấy nhà thơ hình dung như thế nào về thời gian và về quan hệ giữa
thời gian với con người?
Trả lời:
- Dòng thơ đầu tiên cho thấy nhà thơ hình dung thời gian như một
dòng nước trôi chảy không ngừng, con người không thể níu kéo,
không thể nắm giữ thời gian.
Câu 2 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hình ảnh chiếc lá khô và
“tiếng sỏi trong lòng giếng cạn” gợi cho bạn cảm nhận gì về thời
gian?
Trả lời:
- Hình ảnh chiếc lá khô và tiếng sỏi trong lòng giếng cạn có thể thể
hiện sự suy tàn, khô héo, mất dần sức sống. Thời gian trôi đi khiến
cho sự sống và cái đẹp cũng tàn phai.
Câu 3 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy chỉ ra:
a. Điểm tương đồng giữa các hình ảnh “những câu thơ”, “những bài
hát” và “đôi mắt em” ở sáu dòng thơ cuối.
b. Điểm khác biệt giữa các hình ảnh vừa nêu (ở sáu dòng thơ cuối)
với hình ảnh “những chiếc lá” (ở sáu dòng thơ đầu).
Trả lời:
a. Điểm tương đồng giữa các hình ảnh những câu thơ, những bài
hát và đôi mắt em ở sáu dòng thơ cuối là những hình ảnh gợi cho ta
nghĩ đến cái đẹp trường tồn của nghệ thuật và tình yêu, vì nó sống
mãi trong tâm hồn con người.
b. Điểm khác biệt giữa những hình ảnh trên với hình ảnh những
chiếc lá khô ở sáu dòng thơ đầu: một bên là cái đẹp và sự trường
tồn, một bên là sự huỷ hoại và tàn phai.
Câu 4 (trang 63 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nhận xét về mối tương
quan giữa các hình ảnh thơ theo cột ngang và cột dọc trong bảng
sau:
Sáu dòng thơ đầu
Sáu dòng thơ cuối
Những chiếc lá khô
Những câu thơ còn xanh
Những bài hát còn xanh
Tiếng sỏi trong lòng giếng cạn
Hai giếng nước
Trả lời:
- Sự tương phản giữa các hình ảnh:
Sáu dòng thơ Sáu dòng thơ cuối
đầu
Nhận xét
Những chiếc lá Những câu thơ còn xanh
khô
Những bài hát còn xanh
Sự tương phản: tàn phai và
xanh tươi.
Tiếng sỏi trong Hai giếng nước
lòng giếng cạn
Sự tương phản: khô cạn và
tràn đầy.
- Sự tương đồng giữa các hình ảnh:
Hình ảnh
Nhận xét
Sáu dòng Những chiếc lá Tiếng
sỏi Sự tương đồng: tàn úa, khô
thơ đầu
(khô)
trong
lòng cạn, mất dần sức sống.
giếng cạn.
Sáu dòng Những câu thơ/ Hai
thơ cuối
còn xanh
nước.
giếng Sự tương đồng: tươi mới,
trong trẻo, tràn đầy sức sống.
Những bài hát/
còn xanh
Câu 5 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nhận xét về nhạc điệu
(thể hiện qua vần, nhịp, phối thanh, cấu trúc lặp...) của bài thơ Thời
gian.
Trả lời:
- Bài thơ viết theo thể thơ tự do, gần như không có vần, nhịp thơ
chậm rãi khiến giọng điệu bài thơ có sự giản dị, trầm lắng, dồn nén,
hàm súc, giàu chất suy tưởng.
Câu 6 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Đọc lại bài thơ Độc “Tiểu
Thanh kí” (Nguyễn Du) mà bạn đã học trong Bài 7. Những điều
trông thấy. Nêu ít nhất một điểm tương đồng và một điểm khác biệt
trong cảm nhận về thời gian của hai tác giả Nguyễn Du và Văn Cao.
Trả lời:
– Điểm tương đồng: cảm nhận về sự nghiệt ngã của thời gian: Thời
gian qua kẽ tay làm khô những chiếc lá (Thời gian); vườn hoa thành
bãi hoang, văn chương bị đốt đỏ... (Độc “Tiểu Thanh kim),
- Điểm khác biệt: Nguyễn Du dự cảm xót xa về sự lãng quên của
người đời đối với những giá trị của nghệ thuật và số phận người
nghệ sĩ (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa; Người đời ai khóc Tố Như
chăng?), Văn Cao thể hiện niềm tin về sự trường tồn của những giá
trị của nghệ thuật và tình yêu (Riêng những cầu thời còn xanh Riêng
những bài hát/ còn xanh/ Và đôi mắt em như hai giếng nước).
Câu 7 (trang 64 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tìm nghe một bài hát của
Văn Cao và viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cảm xúc của
bạn khi nghe bài hát đó.
Trả lời:
Tham khảo
- Bài hát: Tiến quân ca
- Cảm xúc khi nghe bài hát:
Bài “Tiến quân ca” được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác trong giai đoạn
cuộc vận động giải phóng dân tộc (1939 – 1945), đặc biệt là thời
điểm cách mạng Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực. Khi
nghe những lời hát đầu tiên, em cảm nhận được sự hào hùng, quyết
tâm ngoài ra những câu hát trên còn thể hiện sức mạnh đoàn kết
của nhân dân Việt Nam - những con người cùng chung lí tưởng cứu
nước và chung sức phấn đấu giải phóng đất nước. Lời bài hát rộn
ràng, hào sảng chất chứa khí thế và sự tự hào tất thảy của những
con người Việt Nam. “Tiến quân ca” không chỉ là một bài hát có giai
điệu tuyệt vời mà lời ca trong bài hát này cũng đầy mĩ miều, tạo nên
một bức tranh tuyệt đẹp về một tập thể đoàn kết, vững mạnh thể
hiện tinh thần quyết tâm không ngừng chiến đấu vì một đất nước
Việt Nam vững bền. Khi nghe bài hát, em cảm thấy tự hào, được
khơi gợi sức mạnh, niềm tin vào sự sống và những điều tốt đẹp
trong tương lai.
Soạn bài Ét-Va Mun-Chơ (Edvard Munch) và tiếng thét Chân trời sáng tạo
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Văn bản đề cập đến những chi tiết nghệ thuật những cái thú vị và
bất ngờ được thể hiện trong bức tranh “tiếng thét”.
Câu 1 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Văn bản trên đề cập đến
những chi tiết nghệ thuật quan trọng nào trong bức tranh Tiếng
thét? Những chi tiết đó gợi cảm giác như thế nào đối với người
xem?
Trả lời:
- Những chi tiết nghệ thuật quan trọng trong bức tranh Tiếng thét:
Hình ảnh nhân vật chính, các hình thù trừu tượng xung quanh, các
đường xoáy và màu sắc....
=> Tất cả gợi cảm giác ghê sợ, rùng rợn, lo âu.
Câu 2 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Từ các chi tiết trên, hãy
xác định giá trị của các yếu tố tượng trưng trong bức tranh Tiếng
thét.
Trả lời:
- Giá trị của các yếu tố tượng trưng trong bức tranh: Các chi tiết
trong bức tranh tượng trưng cho những biến cố dữ dội của cuộc
sống, hình ảnh nhân vật tượng trưng cho sự kinh hoàng của con
người trước những thảm họa sắp xảy ra.
Câu 3 (trang 65 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Cần dựa vào những cơ
sở nào để xác định yếu tố tượng trưng trong một tác phẩm nghệ
thuật?
Trả lời:
- Để xác định yếu tố tượng trưng trong một tác phẩm nghệ thuật, ta
cần dựa vào các chi tiết nghệ thuật (hình ảnh, từ ngữ trong văn
chương, màu sắc, đường nét, hình ảnh trong hội hoạ...); từ đó, chỉ
ra những triết lí sâu xa về bản chất của đời sống mà những chi tiết
đó gợi nên.
Soạn bài Thực hành tiếng Việt trang 65 Tập 2 - Chân trời
sáng tạo
Câu 1 (trang 65,66,67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra và nêu tác
dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong những đoạn trích dưới
đây:
a. Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh.
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
(Xuân Diệu, Nguyệt cầm)
b. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của
Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng
minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không
phải từ tay pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các
xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước
Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi
thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng Hoà.
[…]
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi
năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống
phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải
được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã
thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết
đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do, độc lập ấy.
(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)
c. Gió, gió thổi rào rào.
Trăng, trăng lay chấp chới.
Trời tròn như buồm căng.
Tất cả lên đường mới.
Hồn ta cảnh rộng mở
Đôi bên gió thổi vào,
Nghĩ những điều hớn hở
Như trời cao, cao, cao.
(Xuân Diệu, Gió)
d. Rau cần, với cải bắp cho một tí rau răm vào, muối xổi, lấy ra ăn
với thịt đông hay kho tàu, nó lạ miệng và có khi thú hơn cả dưa cải
nữa... Nhưng ăn cháo ám mà không có rau cần thì… hỏng, y như
thể vào một khoảng vườn mà không có hoa, đi trong mùa xuân mà
không thấy bướm.
(Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai)
Trả lời:
a.
- Biện pháp lặp cấu trúc 1: Lặp cấu trúc trong từng dòng thơ:
trăng thương/ trăng nhớ
đàn buồn đàn lặng
- Biện pháp lặp cấu trúc 2: Lặp cấu trúc hai dòng thơ:
Trăng thương, trăng nhớ, hơi trắng ngẩn.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
= > Tác dụng: Làm cho cấu trúc câu thơ ngắt thành những nhịp
ngắn, mô phỏng tiếng đàn đang bắt đầu tấu lên, rải từng nốt chậm
rãi.
b.
- Biện pháp lặp cấu trúc 1: Lặp cấu trúc hai câu sau:
(1) Sự thật là từ miều thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của
Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa.
(2) Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ
không phải từ tay Pháp.
- Biện pháp lặp cấu trúc 2: Lặp cấu trúc giữa các vế câu: Pháp chạy,
Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Đây là phép lặp cấu trúc cụm chủ
vị trong cùng một câu ghép.
- Biện pháp lặp cấu trúc 3: Lặp cấu trúc hai câu sau:
(1) Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm
nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập.
(2) Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên
chế độ Dân chủ Cộng hoà.
- Biện pháp lặp cấu trúc 4: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ
của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay. Đây là phép lặp cấu
trúc thành phần câu.
- Biện pháp lặp cấu trúc 5: Lặp cấu trúc hai cụm chủ vị nòng cốt của
hai câu:
(1) ... dân tộc đó phải được tự do!
(2) Dân tộc để phải được độc lập!
- Biện pháp lặp cấu trúc 6: thủ thân và lực lượng tính mạng và của
cải. Đây là phép lặp cấu trúc các bổ ngữ.
= > Tác dụng: Tạo giọng văn đanh thép, hùng hồn, mạnh mẽ, khẳng
định những sự thật lịch sử không thể chối cãi.
c. Lặp cấu trúc: Gió, gió thổi rào rào/ Trăng trắng lay chấp chơi. Đây
là phép lặp cấu trúc giữa hai dòng thơ.
= > Tác dụng: Nhấn mạnh sự chuyển động tươi mới của mọi sự vật
trong trời đất.
d. Lập cấu trúc: vào một khoảng vườn mà không có hoại đi trong
mùa xuân mà không thấy bướm.
=> Tác dụng: Nhấn mạnh ý nghĩa quyết định của rau cần đối với
lượng của món cháo ám.
Câu 2 (trang 67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2):
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
Riêng những câu thơ
còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước
(Văn Cao, Thời gian)
a. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong
đoạn thơ trên.
b. Cho biết cách diễn đạt “những câu thơ còn xanh”, “những bài hát
còn xanh” có gì đặc biệt.
Trả lời:
a. Lặp cấu trúc giữa hai dòng thơ: Riêng những câu thơ còn xanh/
Riêng những bài hát còn xanh.
= > Tác dụng: Nhấn mạnh sự trường tồn của những giá trị tinh thần,
nghệ thuật.
b. Cách diễn đạt những câu thơ còn xanh, những bài hát còn xanh:
Hữu hình hóa những đối tượng trừu tượng như câu thơ, bài hát;
biển câu thơ, bài hát thành những thực thể có sự sống, có sức trẻ,
chống lại sự tàn phá của thời gian.
* Từ đọc đến viết
Câu hỏi (trang 67 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Viết đoạn văn (khoảng
200 chữ) tự phác hoạ nét nổi bật trong tính cách của bạn, trong
đó có sử dụng biện pháp tu từ lặp cấu trúc.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo
Mỗi người khi sinh ra đều mang trong mình những tính cách riêng
biệt. Tính cách ấy phản ánh những phẩm chất, thái độ, cảm xúc và
hành động của mỗi cá nhân khi đối diện và giải quyết một vấn đề.
Với cá nhân em, em cho rằng tính cách của mình nổi bật bởi sự
năng động và nhiệt huyết. Em là người rất nhiệt tình trong công việc
và cuộc sống. Em luôn cố gắng hết sức để có thể thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao và không bao giờ từ bỏ giữa chừng. Khi gặp
khó khăn, em thường tìm các cách giải quyết và sự giúp đỡ thay vì
từ bỏ. Đặc biệt, em là người thích khám phá và học hỏi. Em luôn
muốn biết nhiều hơn về thế giới xung quanh mình và sẵn sàng đối
mặt với những thử thách mới. Ngoài việc học tập của bản thân trong
trường lớp, em thường tham gia các hoạt động, tổ chức để có thể
học hỏi được nhiều kinh nghiệm và kiến thức mới. Điều đó giúp em
trở thành một người tự tin và sáng tạo hơn đồng thời cũng giúp bản
thân nhạy bén hơn trong giải quyết các vấn đề cá nhân. Em tin rằng
những phẩm chất này sẽ giúp em vượt qua những khó khăn, thử
thách trong cuộc sống và thuận lợi hơn cho việc đạt được ước mơ
của bản thân.
Soạn bài Gai - Chân trời sáng tạo
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Văn bản đề cập đến hình ảnh “bông hồng” và “gai” đồng thời
thể hiện vẻ đẹp của bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cao là biểu
tượng của cái đẹp tinh thần đạt được khi con người vượt qua mất
mát, chông gai trên hành trình tìm kiếm sự hoàn thiện.
Câu 1 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định mối quan hệ
giữa các hình ảnh trong bốn dòng thơ đầu. Chỉ ra ý nghĩa tượng
trưng của hình ảnh “hoa hồng” và “gai”, “hái bông” và “gai cào”.
Trả lời:
- Mối quan hệ giữa các hình ảnh trong bốn dòng thơ đầu: Sự đối lập
giữa hai từ chỉ thời gian (sớm - chiều), hai hình ảnh (hoa hồng –
gai).
- Ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh “hoa hồng” và “gai cào”: hoa
hồng tượng trưng cho cái đẹp, hành động hái hoa là biểu tượng của
hành trình đi tìm cái đẹp; gai tượng trưng cho nỗi đớn đau, cái giá
phải trả trên hành trình gian khổ đó, gai cào là sự chấp nhận cái giá
phải trả để đến với cái đẹp.
Câu 2 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Phân tích sự chuyển đổi
của các hình ảnh trong bốn dòng thơ cuối.
Trả lời:
- Sự chuyển đổi của các hình ảnh trong bốn dòng thơ cuối: Từ gai
cao đến sẹo lên xanh biếc, gai đơm hoa, từ bông hoa hồng có thực
mà chủ thể trữ tình muốn hái đến bông hoa hồng trong tâm hồn nở
ra từ vết gai cao; sự chuyển biến từ nỗi đau đớn sang sự thăng hoa,
niềm hạnh phúc khi chạm đến một cái đẹp cao hơn, thuần khiết
hơn. Nỗi đau khi đã vượt qua sẽ trở nên những trải nghiệm đẹp đẽ,
làm tâm hồn con người phong phú thêm.
Câu 3 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Sự trở lại của hình ảnh
“hoa” ở cuối bài thơ có ý nghĩa gì?
Trả lời:
Dòng thơ đầu tiên và dòng thơ cuối cùng cho ta thấy ý nghĩa của
hình ảnh “hoa trong mỗi dòng thơ, từ đó, thấy được ý nghĩa của việc
lặp lại hình ảnh “hoa” lần thứ hai.
- Sự trở lại của hình ảnh “hoa ở cuối bài cho thấy bản thân sự trải
nghiệm nỗi đau sẽ mang lại những cái đẹp mới mẻ, cao quý hơn.
Bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cao là biểu tượng của cái đẹp
tinh thần đạt được khi con người vượt qua mất mát, chông gai trên
hành trình tìm kiếm sự hoàn thiện.
Câu 4 (trang 68 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bài thơ gợi cho bạn suy
nghĩ gì về bản chất của quá trình sáng tạo nghệ thuật của người
nghệ sĩ: thành quả đạt được và cái giá phải trả có thể là gì?
Trả lời:
- Quá trình hái hoa phải trả giá bằng những vết gai cao và những
bông hoa trong hồn nở ra từ vết gai cào đó có thể hiểu là biểu tượng
của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Hành trình sáng tạo là hành trình
đi tìm cái đẹp vô cùng gian khổ, trong đó người nghệ sĩ phải thâm
nhập, trải nghiệm, hoá thân để sống cùng những nỗi đau của kiếp
người để sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị trường
tồn.
Soạn bài Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học
(Bài thơ) hoặc tác phẩm nghệ thuật (Bức tranh, pho
tượng) - Chân trời sáng tạo
* Tri thức kiểu bài:
- Khái niệm:
Nghị luận về một tác phẩm văn học (bài thơ) hoặc một tác phẩm
nghệ thuật (bức tranh, pho tượng) là kiểu bài nghị luận dùng lí lẽ,
bằng chứng để làm rõ giá trị nội dung và một số nét đặc sắc về
nghệ thuật của một bài thơ hoặc một bức tranh, pho tượng.
- Yêu cầu đối với kiểu bài:
• Về nội dung:
+ Nêu được một số nét đặc sắc về nội dung của tác phẩm (từ ngữ,
hình ảnh, chủ đề tư tưởng, cảm hứng, thông điệp...) và nghệ thuật
của tác phẩm (từ ngữ, hình ảnh, bố cục, thể thơ, vần, nhịp, các biện
pháp nghệ thuật trong bài thơ; chất liệu, bố cục, màu sắc, chi tiết
nghệ thuật... của bức tranh/ pho tượng).
+ Có những lí lẽ xác đáng, hợp lí dựa trên các bằng chứng tiêu biểu
từ tác phẩm.
• Về hình thức, đảm bảo các yêu cầu của kiểu bài nghị luận: lập luận
chặt chẽ; kết hợp các thao tác nghị luận; diễn đạt mạch lạc; sử dụng
các phương tiện liên kết hợp lí để giúp người đọc nhận ra mạch lập
luận.
• Bố cục đảm bảo ba phần:
Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận (tên tác phẩm, tác giả, khái quát
nội dung, ý nghĩa của tác phẩm hoặc nêu định hướng của bài viết).
Thân bài: Lần lượt trình bày các luận điểm về những nét đặc sắc về
nội dung và hình thức nghệ thuật; đưa ra lí lẽ và b...
 





